Việt Nam đang kiểm soát nhiều hơn thúc đẩy cạnh tranh công bằng

Trong khi quốc tế đang vận hành thị trường theo hướng thúc đẩy còn chúng ta có vẻ như đang kiểm soát nhiều hơn thúc đẩy thị trường, ít chú ý đến việc điều tiết thị trường cạnh tranh mà chủ yếu quản lý tất cả các thị trường.

TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương. Ảnh: VNN.TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương. Ảnh: VNN.

Đó là ý kiến của TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tại Hội thảo “Thể chế Quản lý và thực thi các quy định thúc đẩy cạnh tranh công bằng: Thúc đẩy cạnh tranh công bằng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với Việt Nam” diễn ra hôm nay, ngày 1/6.

Tình trạng tại Việt Nam cho thấy trong khi quốc tế đang vận hành thị trường theo hướng thúc đẩy còn chúng ta có vẻ như đang kiểm soát nhiều hơn thúc đẩy thị trường. Mô tả chi tiết hơn, TS Nguyễn Đình Cung cho biết: “Sự cấu kết giữa DN với quan chức cũng tạo ra thị trường méo mó, được bảo hộ bởi các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, chúng ta ít chú ý đến việc điều tiết thị trường cạnh tranh mà chủ yếu quản lý tất cả các thị trường. Thị trường hơi biến động là đã lo điều tiết trong khi thực tế thị trường phải biến động, còn thị trường ổn định không phải là thị trường. Chính sự can thiệp vào ổn định thị trường mới làm thị trường méo mó hơn. Chúng ta có khoảng cách khá lớn về tư duy trong hoạch định chính sách cũng như điều hành cạnh tranh với các nước khác. Mặc dù luôn cổ súy cạnh tranh công bằng nhưng chính chúng ta lại coi cạnh tranh quá mức là xấu. Khác biệt trong tư duy thể hiện trên thực tế là độc quyền doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, vị thế của cơ quan quản lý cạnh tranh lại rất yếu cho nên ngay cả công cụ tối thiểu nhất là tiếp cận và thu thập thông tin cũng không được đảm bảo”.

Cũng vì thiếu cơ quan quản lý, giám sát đủ quyền lực cũng như thiếu luật “chuẩn” nên hiện có nhiều quy định trái thẩm quyền vẫn được áp dụng, DN dù thấy sai nhưng vẫn không ai dám đứng ra khởi kiện. Như vậy, muốn thay đổi môi trường kinh doanh, trước hết chính các DN phải thay đổi cách ứng xử, cần có khởi kiện với các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước ban hành trái pháp luật, vượt quá thẩm quyền...

Hiện nay có tình trạng DN và cơ quan quản lý đang “bằng mặt mà không bằng lòng”, không thực sự coi nhau là đối tác mà là đối thủ. Thực tế, cơ quan quản lý nhà nước luôn có lối suy nghĩ nghi ngờ sự tuân thủ của DN. Đây gọi là “một người ốm bắt cả làng uống thuốc”. Trong khi đó, DN hình thành tâm lý “sợ” cơ quan quản lý

“Tôi thấy còn dư địa để tự do hóa thị trường, nhưng chúng ta đang thiếu hệ thống đảm bảo duy trì cạnh tranh công bằng, bình đẳng trong tiếp cận kinh doanh. Do đó cần thay đổi, nâng cấp trình độ thị trường của nền kinh tế Việt Nam. Cải cách đòi hỏi không chỉ tự do hóa thị trường mà còn hoàn thiện nâng cao hiệu lực quản trị công. Đây là cách thức nâng cấp trình độ thị trường của nền kinh tế. Nếu không chúng ta sẽ có một thị trường méo mó, sai lệch phân bố nguồn lực... dẫn đến nền kinh tế năng suất và năng lực cạnh tranh thấp”  - TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Theo TS Warren Mundy, Ủy viên hội đồng Ủy ban Năng suất của Australia, chính sách cạnh tranh của mỗi quốc gia phải được xây dựng nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho cộng đồng. Nhìn khía cạnh rộng nhất, với sự phát triển của thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển như hiện nay thì chính sách cạnh tranh phải đưa ra được định hướng ngăn ngừa việc lạm dụng vị thế thống lĩnh trên thị trường. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN trên thị trường phát triển đủ lớn để tận dụng được lợi thế tính kinh tế theo quy mô. Chính sách này phải thúc đẩy cạnh tranh phát triển trong DN và khả năng tích lũy vốn trong nền kinh tế, cũng như nâng cao được năng lực của các DN.

Cạnh tranh bình đẳng là chìa khóa để đảm bảo phát triển thị trường, kể cả các hình thức xử phạt, phải được áp dụng đầy đủ đối với các doanh nghiêp nhà nước, bao gồm cả các hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương. Luật cũng cần quy định việc áp dụng các miễn trừ đối với bất kỳ công ty nào hoặc nhóm công ty nào trong một thời gian nhất định nếu việc miễn trừ này phục vụ lợi ích công. Bên cạnh đó, các hình thức xử phạt nên phản ánh mức độ thiệt hại kinh tế đã gây ra, mức độ cần thiết để ngăn chặn hành vi của các công ty trong tương lai cũng như hướng dẫn hành vi thị trường trong tương lai. Muốn vậy, phải có một cơ quan quản lý cạnh tranh tách biệt với nhau và tách biệt với các cơ quan hoạch định chính sách cũng như tách khỏi cơ quan có quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước. Cơ quan này cần rà soát chính sách định kỳ để đảm bảo đạt được các mục tiêu của chính sách được thực thi.

(T.Hương)