Việt Nam là quốc gia thực thi tốt các cam kết liên quan thương mại môi trường

Mô hình tăng trưởng xanh đã hỗ trợ phát triển kinh tế gắn liền với giảm thiểu tác động môi trường thông qua tối thiểu hóa chất thải, khí thải nhà kính, sử dụng tài nguyên bền vững. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đang phát triển đã quyết tâm theo đuổi mô hình tăng trưởng xanh.
Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Thách thức...

Do tính chất nhạy cảm của vấn đề thương mại và môi trường cho nên đến nay, trong khuôn khổ các định chế luật pháp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chưa có một hiệp định đa phương nào đề cập riêng về thương mại và môi trường. Tuy nhiên, trong nhiều hiệp định của WTO lại chứa đựng các điều khoản liên quan đến vấn đề này. Mặt khác, những động thái gần đây tại các cuộc đàm phán trong Vòng Doha cho thấy, có thể WTO đang hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện một hiệp định đa phương về môi trường. Bên cạnh đó, những hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP) vấn đề thương mại và môi trường đã được đưa vào đàm phán. Do đó, dù muốn hay không, Việt Nam không thể và không nên né tránh vấn đề thương mại và môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng.

Có thể nói, Việt Nam là một trong những thành viên WTO thực thi nghiêm túc các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và các cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ môi trường. Các cam kết của Việt Nam về các vấn đề môi trường liên quan đến thương mại chủ yếu tập trung vào các hàng rào phi thuế quan, cụ thể là các biện pháp thương mại như cấm, hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu vì lý do bảo vệ môi trường, sức khỏe của con người, ... Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với chúng ta là cần có chính sách hội nhập như thế nào để đối phó với những rào cản môi trường đối với hàng hóa xuất khẩu và tận dụng những hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao khả năng đáp ứng các quy định tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế?

Tại hội thảo "Tăng trưởng xanh và cơ hội thương mại cho Việt Nam" do Viện Nghiên cứu thương mại - Bộ Công thương phối hợp với Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của Châu Âu (EU-Mutrap) tổ chức hôm nay, ngày 27/5, TS Trịnh Minh Anh, Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quốc gia hội nhập quốc tế về kinh tế, Bộ Công thương cho biết, việc thỏa thuận được một Hiệp định môi trường đa phương sẽ tác động đến khả năng tiếp cận thị trường của các nước đang phát triển ở một số sản phẩm mà các nước ngày có lợi thế, trong đó có Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam sẽ phải đối mặt với một số quy định môi trường mang tính quốc gia của một số nước, hay quy định trong các hiệp định FTA (như TPP) nhằm hạn chế thương mại đối với hàng xuất khẩu của nước khác. Đồng thời, cũng ảnh hưởng đến Việt Nam trong quan hệ thương mại với các nước không tham gia các Hiệp định môi trường đa phương. Việt Nam có thể đối mặt với các vụ kiện môi trường nếu các nước áp dụng biện pháp thương mại để bảo vệ tài nguyên môi trường ngoài phạm vi lãnh thổ. Ngành đánh bắt thủy sản của Việt Nam có thể bị tác động bởi các biện pháp môi trường đó. Hạn chế về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn và quy trình sản xuất là khó khăn đối với Việt Nam. Điển hình như một số quy định môi trường có thể được áp dụng trong thương mại như vấn đề Biến đổi khí hậu, Quản lý hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật, an toàn sinh học... có thể gây trở ngại đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. 

Mở cửa thị trường hàng hóa môi trường sẽ làm tăng khối lượng nhập khẩu vào Việt Nam, tuy nhiên, theo các DN đang hoạt động thì việc tránh phân biệt đối xử với hàng hóa môi trường có xuất xứ Việt Nam là rất cần thiết, bởi chừng nào hàng hóa có xuất xứ Việt Nam còn bị coi là kém hoặc các dự án yêu cầu một tỷ lệ nhất định hàng hóa có xuất xứ nước ngoài thì ngành công nghiệp môi trường còn khó có cơ hội phát triển.

Cơ hội hiện đại hóa dịch vụ môi trường

Những lợi ích tiềm tàng của việc tự do hóa hàng hóa môi trường đối với các nước đang phát triển như Việt Nam là việc tạo ra những cơ hội xuất khẩu mới và đẩy mạnh nhập khẩu hàng hóa môi trường có chất lượng cao. Vì việc cung cấp hàng hóa môi trường cơ bản đòi hỏi mức đầu tư cao, nên sự hiện diện thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài có thể đóng góp cho việc tăng mức đầu tư và tạo vốn cũng như cải thiện mức độ bao phủ và chất lượng của các hàng hóa môi trường. Đặc biệt, không chỉ làm tăng thương mại đối với nhóm hàng này mà còn cải thiện chất lượng môi trường nếu chúng ta có thể tìm kiếm sự hỗ trợ tài chính.

Đáng chú ý, việc thuận lợi hóa cho lĩnh vực dịch vụ môi trường sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển giao công nghệ môi trường từ các nước phát triển sang các quốc gia kém phát triển hơn, do đó, nâng cao năng lực môi trường của các nước đang và kém phát triển. Việt Nam sẽ có cơ hội để hiện đại hóa ngành dịch vụ môi trường, học hỏi kinh nghiệm quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Việc phát triển một cách hợp lý lĩnh vực môi trường, tạo những lợi thế cạnh tranh cho Việt Nam về giá, nhân công sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho Việt Nam tiếp cận được với các thị trường khác trong việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ môi trường. Đồng thời, giúp Việt Nam có nhiều lựa chọn hơn trong việc tiếp cận các công nghệ bảo vệ môi trường tốt và ít tốn kém từ các nước thành viên khác.

Quyết tâm theo đuổi mô hình tăng trưởng xanh

Ý tưởng về “tăng trưởng xanh”đã được đề xuất trong Hội nghị các Bộ trưởng lần thứ 5 về Môi trường và Phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương năm 2005, tổ chức tại Seoul – Hàn Quốc. Trong gần 10 năm qua, tăng trưởng xanh đã trở thành một mô hình tăng trưởng kinh tế mới được nhiều quốc gia, đặc biệt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương áp dụng và nhiều tổ chức quốc tế tham gia. Mô hình tăng trưởng xanh đã hỗ trợ phát triển kinh tế gắn liền với giảm thiểu tác động môi trường thông qua tối thiểu hóa chất thải, khí thải nhà kính, sử dụng tài nguyên bền vững. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đang phát triển đã quyết tâm theo đuổi mô hình tăng trưởng xanh.

Trước thực trạng mô hình tăng trưởng kinh tế vân dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, đầu tư của Chính phủ và FDI, tuy vậy, năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn còn thấp. Đi kèm với đó là chất lượng sống của người dân còn thấp do ô nhiễm, những thách thức mới từ biến đổi khí hậu, gia tăng khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển... đã đặt ra nhu cầu phải có một mô hình tăng trưởng mới. Chính phủ Việt Nam đã thông qua “Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” vào tháng 9/2012 và “Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh cho giai đoạn 2014-2020” vào tháng 3/2014. Theo đó, Bộ Công Thương đang xây dựng “Chương trình hành động thực hiện tăng trưởng xanh của Bộ Công Thương giai đoạn 2015-2020”.

Chiến lược tăng trưởng xanh đặt ra nhiệm vụ là phải giảm thiểu tự nguyện khí thải nhà kính 10% vào năm 2020 và tăng thêm 10% nếu có sự hỗ trợ quốc tế. Đồng thời, xanh hóa sản xuất với việc khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ xanh, xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

TS Nguyễn Tuấn Anh, Phó Vụ trưởng, Vụ Khoa học, Giáo dục và Tài nguyên môi trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết: cần rà soát và điều chỉnh các kế hoạch hành động của các ngành, vùng theo hướng hạn chế phát triển các ngành kinh tế gây ô nhiễm môi trường cao và làm suy giảm tài nguyên, trong khi tạo ra các điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành sản xuất xanh mới. Muốn vậy trước mắt phải cải cách thể chế, điều chỉnh lại các kế hoạch tổng thể, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy kinh doanh và tài chính.

Nhắc đến vấn đề tài chính, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư không khỏi lo ngại khi tổng chi phí kinh tế cho biến đổi khí hậu vào khoảng 2-6% GDP, tương đương 3-9 tỷ USD và 1-1,5 tỷ USD cho thích ứng với biến đổi khí hậu; cần khoảng 30 tỷ USD cho thực hiện thành công chiến lược tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, thách thức là chúng ta đang thiếu hụt các chính sách để huy động nguồn tài chính cho tăng trưởng xanh, đặc biệt là các quỹ quốc tế về khí hậu, cũng như khó khăn trong việc vận động các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Ngay cả các tổ chức kinh tế (DN, cơ sở sản xuất...) cũng có năng lực tài chính hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam có cơ sở hạ tầng yếu với công nghệ lạc hậu, giá thành sản phẩm cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp nên khó có điều kiện thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường. Phần lớn các cơ sở sản xuất vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường lại là những đơn vị có nhiều khó khăn, một mặt không thể ngừng sản xuất, mặt khác những khó khăn về vốn lại không cho phép đổi mới thiết bị hoặc lắp đặt hệ thống xử lý chất thải, thậm chí một số nhà máy có hệ thống xử lý chất thải nhưng cũng không muốn vận hành vì sẽ làm tăng giá thành sản xuất. Như vậy, có thể nói khó khăn đang đến từ nhiều phía.

"Chính phủ cần thiết lập khung khổ pháp lý cho tăng trưởng xanh, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân đầu tư dưới các hình thức như FDI, nhân đạo, đầu tư địa phương... Trong đó, đầu tư Chính phủ và vốn ODA sẽ được sử dụng như chất xúc tác để tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân trong lĩnh vực biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, tập trung vào chuyển giao công nghệ, các dự án thử nghiệm...Đặc biệt, cần giới thiệu mô hình đối tác công - tư (PPP) trong các lĩnh vực như hạ tầng, điện..." - TS Nguyễn Tuấn Anh chia sẻ.

(T.Hương)