Việt Nam nên chọn sản phẩm CNHT chủ lực trở thành thương hiệu quốc gia

Hôm nay, ngày 11/9, Công ty Samsung Electronics Việt Nam (SEV) phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE) tổ chức buổi Hội thảo gặp gỡ hơn 200 nhà cung cấp toàn quốc trong các lĩnh vực khác nhau như điện tử, cơ khí, nhựa... nhằm thảo luận về giải pháp hỗ trợ phát triển nền công nghiệp phụ trợ của Việt Nam.

Việt Nam chưa định hình được sản phẩm CNHT chủ lực.
Việt Nam chưa định hình được sản phẩm CNHT chủ lực.
 
Chưa định hình được sản phẩm CNHT chủ lực
 
Theo đánh giá của Giáo sư TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), từ đầu thế kỷ XXI, Chính phủ đã chủ trương phát triển CNHT, hợp tác với Nhật Bản để xây dựng hai khu CNHT ở hai thành phố cảng là Vũng Tàu và Hải Phòng, nhưng sau 14 năm nước ta vẩn chưa định hình được những sản phẩm CNHT cần tập trung xây dựng trên quy mô cả nước, ở từng vùng kinh tế do vậy giá trị gia tăng của sản phẩm khá thấp, nhiều loại sản phẩm như ô tô, điện thoại di động, điện tử, dày da, dệt may chủ yếu vẩn là gia công, lắp ráp, phần lớn CNHT công nghệ cao do doanh nghiệp FDI thực hiện.
 
Nguyên nhân được lý giải là do chưa có chiến lược đầu tư ưu tiên phát triển một vài loại CNHT quốc gia để tạo ra sản lượng quy mô lớn. Trong thập niên 90 của thế kỷ trước Malaysia đã tập trung phát triển điện và điện tử (E&E) để phục vụ sản xuất trong nước và tạo ra mặt hàng xuất khẩu chủ lực trên thị trường thế giới, năm 2000 chiếm 57% kim ngạch xuất khẩu của nước này. Thái Lan khuyến khích FDI vào ngành công nghiệp ô tô, đã thu hút được 17 hãng sản xuất ô tô lớn của thế giới, năm 2012 đạt sản lượng 2,45 triệu chiếc, khoáng ½ để xuất khẩu; 635 nhà cung ứng cấp 1 (chiếm 65%) là doanh nghiệp Thái Lan hoặc liên doanh với nước ngoài với cổ phần chi phối là của người Thái; khoảng 1.700 nhà cung ứng cấp 2 là người Thái.
 
Thêm nữa, các chính sách phát triển CNHT chưa tạo lập được các mô hình liên kết theo chiều dọc - chuỗi giá trị sản phẩm từ người cung ứng đầu vào - người sản xuất sản phẩm cuối cùng - người phân phối sản phẩm và theo chiều ngang - giữa các nhà sản xuất cùng một loại sản phẩm với sự phân công và hợp tác để tạo ra năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Ngoài ra, cũng vì chưa tạo lập mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy mặc dù một số công ty xuyên quốc gia (TNCs) hàng đầu thế giới như TOYOTA, HONDA, INTEL, SAMSUNG, CANON đã sản xuất với khối lượng lớn mà vẩn chưa có hệ thống nhà máy CNHT của Việt Nam. Theo số liệu điều tra của JETRO (Nhật Bản) thì số linh kiện, nguyên phụ liệu nội địa cung ứng cho sản phẩm công nghiệp của Trung Quốc và Thái Lan chiếm 50 - 60%, của Việt Nam chỉ chiếm 27,8% giá trị sản lượng công nghiệp. Do vậy giá trị gia tăng của sản phẩm Việt Nam giao động từ 15 - 30%, kể cả những sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn như may mặc và da dày.
 
Gia nhập chuỗi giá trị bằng cách thu hút FDI của TNCs

Là nước công nghiệp hóa đi sau, Việt Nam cần và có thể tận dụng lợi thế về thông tin của những nước đi trước để vận dụng bài học thành công, tránh vết xe đổ nhằm tìm ra phương thức hữu hiệu trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu bằng cách thu hút FDI của TNCs hàng đầu thế giới. Malayxia và Thái Lan là hai trường hợp điển hình để Việt Nam nghiên cứu. Cả hai nước này đều theo đuối chính sách mở cữa để thu hút FDI, nhưng có sự khác biệt lớn. Trong khi Thái Lan điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng FDI thì Malayxia có vẻ tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước, điển hình là công nghiệp ô tô. Malayxia khuyến khích và bảo hộ nhãn hiệu ô tô Proton của nước này thì Thái Lan mở cửa cho các hãng sản xuất ô tô lớn thế giới và đưa lại kết quả khác nhau, trong khi ô tô Proton chỉ tiêu thụ nội địa thì Thái Lan trở thành nước sản xuất và xuất khẩu ô tô lớn trong khu vực với giá trị gia tăng trên 50%, có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Kinh nghiệm của Thái Lan cần và có thể vận dụng vào Việt Nam để tiếp tục mở cữa thu hút các TNCs công nghệ cao với dự án quy mô lớn nhằm phát triển CNHT theo hai bước: thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước đầu tư vào CNHT; tạo lập mối liên kết với doanh nghiệp trong nước nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển CNHT nội địa, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao.

Những động thái gần đây của nhiều TNC công nghệ cao hàng đầu thế giới như SAMSUNG, LG, INTEL, NOKIA (sau khi MICROSOFT mua lại)… tăng vốn đầu tư mới và chuyển nhà máy từ nước khác sang Việt Nam đã tạo ra cơ hội lớn để thu hút FDI công nghệ, dịch vụ cao và phát triển CNHT. Việt Nam có ưu thế nổi trội so với Thái Lan, Malayxia về ổn định chính trị, an ninh, an toàn, tiềm năng tăng trưởng kinh tế, quy mô thị trường trong nước, trình độ và kỷ năng lao động, chi phí nhân công thấp (tiền lương tối thiểu năm 2012 của nước ta trung bình hàng tháng 75 USD, của Thái Lan là 265 USD, tiền lương trung bình hiện nay của nước ta bằng 50% của Trung Quốc). Mặt khác, do Malayxia thay đổi chính sách thu hút FDI và coi trọng phát triển doanh nghiệp trong nước. Thái Lan thì bất ổn về chính trị, chi phí nhân công gia tăng, lũ lụt khá nghiêm trọng, nhất là ở thành phố Băng Kốc, nên một số nhà đầu tư quốc tế đã có chủ trương “Thái Lan + 1”. Trong khi đó, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới cũng là nước thu hút khoảng 50% FDI vào các nước đang phát triển đang đứng trước các thách thức lớn đối với các nhà đầu tư Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu và Hàn Quốc có cả nhân tố chính trị và kinh tế, do đó họ đã và đang theo đuổi chủ trương “Trung Quốc + 1”.

Những động thái thu hút FDI của nước ta và của Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Indonexia, Philippin từ 2010 đến nay cho thấy đang có sự dịch chuyển có lợi cho Việt Nam trong việc tiếp nhận vốn đầu tư của một số TNCs hàng đầu thế giới. Hiện nay nhiều địa phương như TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, Bắc Ninh… đang tìm cách phát triển CNHT tại địa phương. Chưa có địa phương nào có bước đột phá trong việc phát triển CNHT. Do vậy rất cần tìm ra phương thức và mô hình thích hợp với điều kiện của từng loại sản phẩm, từng địa phương.

Phát triển CNHT cho Samsung?

Câu chuyện CNHT đã được bàn đến từ hơn mười năm nay, có cả một chiến lược phát triển chung và từng ngành hàng, cũng đã có những bước tiến đáng ghi nhận trong ngành dệt sợi và may mặc, cơ khí; tuy vậy hiện vẩn là vấn đề thời sự của nước ta. Trong thế giới hiện đại khi mạng sản xuất và phân phối mang tính khu vực và toàn cầu thì mỗi nước cần dựa vào lợi thế so sánh của mình để tập trung đầu tư phát triển một số công nghiệp hỗ trợ đạt được giá trị sản xuất và tỷ trọng xuất khẩu chiếm thị phần chi phối ở khu vực và toàn cầu như cách mà Malaysia đã làm vào thập niên 90 của thế kỷ trước đối với linh kiện điện và điện tử.

"Việt Nam không thể phát triển bất cứ CNHT nào, mà phải lựa chọn một số sản phẩm chủ lực để phát triển thành thương hiệu quốc gia; cũng không nên máy móc khi đặt vấn đề tỷ lệ nội địa hóa đối với từng loại sản phẩm như ô tô, xe máy, mà phải tính đến chi phí, giá thành, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sự phân công và hợp tác theo chuỗi giá trị toàn cầu" - TSKH Nguyễn Mại khuyến cáo.

Trở lại vấn đề phát triển CNHT cho Samsung, với quy mô sản xuất thì khi nhà máy tại Thái Nguyên đi vào hoạt động đat công suất thiết kế thì SEV sẽ sản xuất khoảng 240 triệu ĐTDĐ ở nước ta, cần hàng trăm xí nghiệp CNHT tại chỗ và trong khu vực. Đó là cơ hội lớn cho Bắc Ninh, Thái Nguyên và các địa phương khác trong vùng Thủ đô phát triển CNHT, trong khi hiện này chủ yếu do các doanh nghiệp FDI thực hiện. Do vậy việc hợp tác giữa Việt Nam với Samsung để từng bước xây dựng hệ thống xí nghiệp CNHT của nước ta cho tập đoàn này hình thành mô hình thí điểm là phương thức thích hợp trong bối cảnh hiện nay. Việc đó cũng có lợi cho SAMSUNG vì khi đã thết lập được mạng lưới CNHT tại địa phương sẽ tạo điều kiện giảm giá thành, tăng giá trị gia tăng và tăng lợi nhuận của tập đoàn.

Trao đổi về giải pháp phát triển CNHT Việt Nam, Ông Shim Won Hwan, Tổng Giám đốc khu tổ hợp sản xuất Samsung cho biết: Tiêu chí của Samsung là luôn chào đón các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng, nếu như các doanh nghiệp đáp ứng được 3 tiêu chí: Chất lượng - Thời gian vận chuyển - Giá cả. “Samsung luôn tìm kiếm và đón nhận những cơ hội hợp tác với các nhà cung cấp trong nước đáp ứng đủ các tiêu chí về chất lượng, tiến độ và giá cả, tăng số lượng nhà cung cấp Việt Nam trong chuỗi cung ứng của Samsung, mang lại nhiều lợi ích cho cả Samsung và đất nước Việt Nam. Hiện nay, tổng số vốn đầu tư đăng ký của Samsung tại Việt Nam trong lĩnh vực điện tử và công nghiệp phụ trợ đã lên tới gần 8 tỷ USD, với những dự án có quy mô lớn đã và đang được triển khai. Tùy thuộc vào kết quả đạt được, tôi nghĩ, không khó để nói rằng Samsung sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư tương ứng trong thời gian sắp tới".

Tuy nhiên, dù Samsung có mở rộng quy mô đầu tư và mong muốn được đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam đến đâu chăng nữa thì vẫn cần có những điều kiện làm tiền đề. Và một trong những tiền đề đó là phát triển ngành CNHT trong lĩnh vực tương ứng. Nếu không thể phát triển được CNHT trong nước, chắc chắn mức độ phụ thuộc lớn vào bên ngoài là không thể tránh khỏi, tương ứng với đó là sự suy yếu về sức cạnh tranh và hệ quả của nó là sẽ rất khó để phát triển kinh tế bền vững và lâu dài. Trong công cuộc phát triển doanh nghiệp phụ trợ, nếu chỉ có sự cố gắng của bản thân các doanh nghiệp mua hàng như Samsung, hay hỗ trợ của Chính phủ, và tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc thì cũng chưa đủ. Trước hết, bản thân doanh nghiệp phụ trợ phải tự lực thì mới có thể giành được lợi thế cạnh tranh hơn so với các công ty khác về chất lượng, giá thành và thời hạn giao hàng.

Ngoài ra, chúng ta cũng phải thay đổi suy nghĩ về đối thủ cạnh tranh, lúc này không chỉ đơn thuần chỉ là giữa doanh nghiệp Việt Nam hay Hàn Quốc mà còn là tất cả các doanh nghiệp khác trên phạm vi thị trường toàn cầu. Nguyên nhân là do khi thị trường tiêu thụ của công ty thu mua đã được toàn cầu hóa thì tất yếu việc gia công linh kiện cũng sẽ được toàn cầu hóa theo. Với sự tự vận động của nhà cung cấp, kết hợp với sự hỗ trợ từ phía Chính phủ và công ty thu mua một cách hợp lý, sẽ hình thành các nhà cung cấp có “thế và lực” mạnh hơn. Mặt khác, với các nhà cung cấp này sẽ tạo ra một cơ cấu tuần hoàn vô cùng hiệu quả trong quá trình phát triển thành nhà sản xuất sản phẩm hoàn thiện.

"Nhưng hiện nay ở Việt Nam, trên thực tế CNHT trong lĩnh vực điện tử còn tương đối lạc hậu. Ngay tại Samsung, ở thời điểm này, các doanh nghiệp trong nước cũng chỉ cung cấp các loại mặt hàng như sản phẩm in ấn, bao bì cho chúng tôi. Do đó, thiết nghĩ chúng ta bắt buộc phải phát triển ngành công nghiệp sản xuất/ chế tạo có sức cạnh tranh. Để làm được điều này, thì phát triển CNHT là điều kiện tiên quyết. Samsung, với mục tiêu trở thành doanh nghiệp quốc dân của Việt Nam và được mọi người dân Việt Nam yêu mến, chúng tôi xin hứa sẽ làm hết sức mình để sống trọn trong trái tim mọi người dân Việt Nam và  tiếp tục hỗ trợ các yếu tố cần thiết cho Việt Nam như: thứ nhất là đào tạo nhân tài ưu tú cho Việt Nam, thứ 2 là quan tâm sâu sắc tới sự phát triển CNHT tại Việt Nam vì sự phát triển lâu dài của nền kinh tế Việt Nam" - Ông Shim Won Hwan khẳng định...

(T.Hương)