Việt Nam:Tăng trưởng chậm do hạn chế trong cải cách

Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô có cải thiện hơn trong năm 2013 nhưng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn ở dưới mức tiềm năng do phải đối mặt với các vấn đề về cơ cấu trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và trong lĩnh vực ngân hàng, và do những méo mó về mặt chính sách tiếp tục gây cản trở đầu tư tư nhân trong nước và cạnh tranh trong các ngành quan trọng. Do đó, tăng trưởng có khả năng vẫn ở mức khiêm tốn trong năm 2014 do không có tiến bộ rõ rệt trong việc giải quyết các vấn đề về tái cơ cấu.

Việt Nam:Tăng trưởng chậm do hạn chế trong cải cách

Đó là nhận định được WB đưa ra tại buổi Họp báo Cập nhật kinh tế vùng Đông Á và Thái Bình Dương hôm nay, ngày 7/4, tại Hà Nội.

Thách thức tài chính ngày càng tăng

Theo đó, mặc dù các cân đối kinh tế vĩ mô được cải thiện và các tài khoản đối ngoại được củng cố, tỷ lệ tăng trưởng GDP vừa phục hồi bền vững vẫn còn bị ngăn trở do sự chậm chạp trong cải cách cơ cấu và do mức độ không chắc chắn của tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Cầu trong nước vẫn còn yếu do lòng tin của khu vực tư nhân thấp, khu vực doanh nghiệp nhà nước có tỷ suất vay nợ quá cao, khu vực ngân hàng thiếu vốn, và một lý do nữa là ngân sách nhà nước đang suy giảm. Về phía cung, các đánh giá so sánh khả năng cạnh tranh của các nước cho thấy rằng Việt Nam hiện đang bị suy giảm khả năng cạnh tranh so với các nền kinh tế có trình độ tương đương. Tiếp sức cho tăng trưởng trong trung hạn đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm tới một số cải cách cơ cấu - trong đó chú trọng vào các ngân hàng và doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và tháo bỏ rào cản đối với đầu tư tư nhân trong nước.

Bên cạnh đó, dù tỷ lệ lạm phát giảm đã tạo cơ hội cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) nới lỏng quy định lãi suất nhằm kích cầu khu vực tư nhân, tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng chỉ tăng dần dần: tổng tín dụng cho nền kinh tế từ hệ thống ngân hàng ước tính đã tăng khoảng 9% trong năm 2013 so với kế hoạch năm là 12%. Các hoạt động tín dụng chùng xuống khi các ngân hàng, với bảng cân đối phải chịu thêm gánh nặng từ tỷ lệ nợ xấu cao, e sợ những rủi ro ngày càng gia tăng và đang dự kiến sẽ tháo bớt đòn bẩy tài chính. Nhu cầu tín dụng vẫn còn yếu, thể hiện sự tự tin kinh doanh thấp trong khu vực tư nhân.

Ngoài ra, những điểm yếu của ngành tài chính vẫn còn tồn tại, tạo thành trở ngại cho tình hình kinh tế chung. Nợ xấu trong ngành ngân hàng tiếp tục là một mối lo ngại lớn, mặc dù cơ sở dữ liệu kém chất lượng và yêu cầu công bố thông tin hạn chế làm ngăn cản khả năng ước tính chính xác độ lớn của nợ xấu.  Để nỗ lực để đối phó với nợ xấu của ngành ngân hàng, chính phủ đã thành lập Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam (VAMC), có trách nhiệm mua, phục hồi, và tái cơ cấu các khoản nợ xấu của các ngân hàng. Tuy nhiên, có những lo ngại về năng lực hoạt động của VAMC, về sự thiếu nguồn lực (bao gồm cả tài chính) để đáp ứng nhu cầu vốn hóa ngành ngân hàng, và về tiến độ thực hiện, cũng như các vấn đề khác. Các vấn đề về vỡ nợ, mất khả năng thanh toán, và quyền của bên cho vay cũng sẽ cần phải được giải quyết để hỗ trợ tái cơ cấu nợ doanh nghiệp.

Chính phủ đang phải đối mặt với những thách thức tài chính ngày càng tăng do thu ngân sách giảm. Mục tiêu thâm hụt ngân sách đặt ra cho năm 2013 đã được điều chỉnh từ 4,8% của GDP lên 5,3% GDP (chuẩn mực kế toán của chính phủ), do đó đã vượt quá chỉ tiêu thâm hụt của chính phủ là 4,5% GDP (2011-15). Tăng trưởng kinh tế chậm lại kết hợp với ưu đãi giảm thuế cho các doanh nghiệp đã làm giảm khả năng hồi phục của thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng trong hai năm qua. Chính phủ đang cố gắng tăng cường quản lý thuế để có thể bù đắp một phần thiệt hại.  Chính phủ vẫn tiếp tục kiện toàn chi đầu tư phát triển, được ước tính đã giảm từ 10,8% GDP trong năm 2011 xuống còn khoảng 7,3% trong năm 2013.  Tỷ lệ tăng chi thường xuyên đã giảm trong giai đoạn 2012-13, mặc dù chi thường xuyên trong các lĩnh vực xã hội vẫn là một ưu tiên trong ngân sách nhà nước.  Hiện đã có những quy định chặt chẽ hơn về chi tiêu từ nguồn thu ngân sách so với những gì kế hoạch trong dự trù ngân sách ban đầu. Một số biện pháp đã được đưa ra để cắt giảm các khoản trợ cấp, chi cho hàng hóa và dịch vụ, và những khoản chi không thiết yếu.

Có thể nói, Chính phủ hiện đang đối mặt trước những lựa chọn chính sách tài khóa quan trọng khi phải cân đối giữa hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Cũng cần phải chú ý đến việc thay đổi thành phần nợ công. Tỷ lệ nợ nước ngoài ưu đãi trong tổng số nợ công và nợ nước ngoài có bảo lãnh công của Việt Nam đã bắt đầu giảm do Việt Nam đang chuyển thành quốc gia thu nhập trung bình. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với ổn định tài chính công dài hạn, vì trái phiếu trong nước có lãi suất cao hơn đáng kể và thời hạn ngắn hơn nhiều so với nợ nước ngoài ưu đãi.

Dự báo chỉ tăng trưởng khiêm tốn 5,5%

Dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ khiêm tốn vào khoảng 5,5% trong năm 2014. Điều này dựa trên giả định rằng đường lối thận trọng trong kinh tế vĩ mô sẽ được thực hiện thông qua việc theo đuổi chính sách tiền tệ thận trọng và tiếp tục tập trung cải cách cơ cấu (với sự quan tâm đặc biệt đến tái cơ cấu các khu vực doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng, và giải phóng đầu tư khu vực kinh tế tư nhân trong nước). Các tài khoản thương mại và tài khoản vãng lai dự kiến ​​vẫn thặng dư trong năm 2014, mặc dù ở mức thấp hơn so với năm 2013. Lạm phát có thể nằm trong trong chỉ tiêu của chính phủ là 7% vào năm 2014 với giả định tăng trưởng tín dụng khiêm tốn và sẽ không xảy ra những cú sốc lớn từ phía cung.

Với chương trình tái cơ cấu đang được đà, dự kiến sẽ có một số tiến bộ quan trọng trong năm 2014. Những nỗ lực để  thoái vốn nhà nước ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính và cổ phần hóa một số lớn các doanh nghiệp nhà nước có thể gửi một tín hiệu tích cực tới các nhà đầu tư về cam kết của chính phủ đối với chương trình này. Cần cấp thiết giải quyết vấn đề nợ xấu trong ngành ngân hàng, mặc dù do sự phức tạp của các vấn đề liên quan, có khả năng đây sẽ là một quá trình kéo dài hơn dự tính. Nhiều hoạt động trong số những hành động này sẽ liên quan đến chi phí, và không rõ những chi phí này sẽ được đáp ứng như thế nào.

Theo bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, cuối năm 2013, Chính phủ đã đưa ra nhiều luật mới. Đây là tín hiệu tốt cho việc cải cách các DNNN như yêu cầu công bố, minh bạch thông tin, thoái vốn của DNNN khỏi lĩnh vực ngoài ngành. Ngoài ra còn có quy định mới đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa khi Chính phủ đưa ra tham vọng cổ phần hóa trên 400 DNNN trong 2 năm tới. Cùng với đó, chúng tôi cũng thấy một loạt DNNN IPO trong năm nay. Ngân hàng Nhà nước cũng đưa ra nhiều quy định thắt chặt việc giám sát thanh tra các ngân hàng thương mại, cùng với đó, việc thực hiện Thông tư 02 đã được trì hoãn từ 2013 nhưng sẽ được đưa vào thực hiện vào tháng 6/2014 và 1 số quy định được hoãn sang năm sau...cũng là tín hiệu quan trọng gửi tới thị trường. Đây là cơ sở để WB đưa ra nhận định tích cực. WB đang trông thấy các quy định quan trọng được đưa ra nhưng có ý nghĩa quyết định lại là việc thực thi các chính sách. Như vậy, căn cứ để đưa ra tín hiệu lạc quan là sự hiện diện của các văn bản pháp lý còn việc thoái vốn, cổ phần hóa, thúc đẩy DNNN minh bạch hơn, chịu trách nhiệm giải trình... là bước đi thực hiện quan trọng. WB hy vọng sẽ thấy kết quả trong thời gian tới.

Mặc dù vậy, những thành quả kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn còn mong manh và đang đối mặt với những rủi ro một vài rủi ro liên quan đến các yếu tố bất lợi như tổng cầu của khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn yếu và rất dễ bị ảnh hưởng bởi bất kỳ diễn biến kinh tế tiêu cực nào. Bên cạnh đó, tuy xác xuất nhỏ nhưng vẫn còn rủi ro nữa là các cơ quan chức năng có thể buộc phải nới lỏng quan điểm chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng để kích cầu khu vực tư nhân còn yếu. Mặt khác, đà cải cách cơ cấu có thể lại tiếp tục chậm chạp, khiến cho tăng trưởng GDP tiếp tục ở mức thấp và làm giảm bền vững tài khóa.

Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô có cải thiện hơn trong năm 2013 nhưng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn ở dưới mức tiềm năng do phải đối mặt với các vấn đề về cơ cấu trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và trong lĩnh vực ngân hàng, và do những méo mó về mặt chính sách tiếp tục gây cản trở đầu tư tư nhân trong nước và cạnh tranh trong các ngành quan trọng. Do đó, tăng trưởng có khả năng vẫn ở mức khiêm tốn trong năm 2014 do không có tiến bộ rõ rệt trong việc giải quyết các vấn đề về tái cơ cấu.

(T.Hương)