CNTT ngành Tài chính sẵn sàng cho giai đoạn 2016-2020

(eFinance Online) - Ngày 24/3/2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký Quyết định số 556/2016/QĐ-BTC về việc phê duyệt Kế hoạch 5 năm về ứng dụng CNTT trong hoạt động của Bộ Tài chính giai đoạn 2016-2020. Kế hoạch này là một bộ phận của Chiến lược Tài chính giai đoạn 2011-2020 có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến trình hiện đại hoá gắn với việc đẩy mạnh cải cách hành chính của ngành Tài chính. Các hệ thống CNTT của ngành Tài chính đã chuẩn bị những gì để triển khai kế hoạch này? 
Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

** Ông Nguyễn Mạnh Tùng, Cục trưởng Cục CNTT và Thống kê, Tổng cục Hải quan: “Việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN là một điểm nhấn rất quan trọng”

Giai đoạn 2011-2015 và đến thời điểm hiện tại ngành Hải quan đã đạt được kết quả quan trọng trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá ngành trong đó CNTT đóng góp quan trọng vào kết quả đó. Có thể điểm một số thành tựu nổi bật trong 5 năm qua: Thứ nhất, ngành Hải quan tiếp tục triển khai mở rộng hải quan điện tử, điểm nhấn là năm 2014 đã hoàn thiện và đưa vào vận hành chính thức hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS do Chính phủ Nhật Bản tài trợ. Dự án này triển khai rất nhanh và hiệu quả, chưa đầy 3 năm từ khi khởi động dự án cùng với sự nỗ lực của cán bộ công chức trong ngành, cũng như sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản, hệ thống đã đi vào vận hành chính thức tại tất cả đơn vị hải quan toàn quốc. Hệ thống đi vào vận hành đã góp phần thay đổi diện mạo cơ bản môi trường thông quan Việt Nam, góp phần giảm thiểu thời gian thông quan hàng hoá, thời gian giải phóng hàng và đơn giản hoá các thủ tục hải quan.

Cùng với việc đưa hệ thống VNACCS/VCIS vào vận hành, toàn bộ hệ thống CNTT của hải quan đã được chuyển từ mô hình phân tán sang mô hình tập trung. Điều này đánh dấu bước chuyển đổi quan trọng ở góc độ công nghệ, tạo tiền đề cho hiện đại hoá hệ thống trong các năm tiếp theo. Việc hoàn thiện tập trung hoá hệ thống cùng với việc tập trung hoá tất cả các ứng dụng khác của hải quan góp phần tạo ra môi trường đồng bộ để cho hệ thống VNACCS/VCIS vận hành. Đến thời điểm hiện tại có thể nói hệ thống VNACCS/VCIS đã hoạt động ổn định trên cơ sở xử lý dữ liệu tập trung, vận hành 24/7.

Sau khi hệ thống VNACCS/VCIS  đưa vào vận hành cũng như các hệ thống tập trung khác của ngành Hải quan, ngành Hải quan đã tổ chức duy trì hệ thống đó 24/7, chúng tôi tổ chức ra bộ máy vừa đảm bảo duy trì vận hành giải đáp vướng mắc cho cả doanh nghiệp, cả hải quan trong quá trình sử dụng hệ thống VNACCS/VCIS và hệ thống CNTT khác. Hiện nay, số lượng doanh nghiệp thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu thông quan tự động trên hệ thống chiếm tới trên 50 nghìn doanh nghiệp. Thời gian thông quan đối với luồng xanh từ 3-5 giây, trong đó số lượng tờ khai luồng xanh chiếm từ 40-50%. Những con số đó cho thấy hiệu quả rất tốt khi đưa hệ thống VNACCS/VCIS vào, trong đó có đóng góp của hệ thống CNTT hải quan cùng sự tham gia hợp tác chặt chẽ của cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ 2 cùng với việc đưa vào vận hành hệ thống VNACCS/VCIS, ngành Hải quan cũng đẩy nhanh tiến độ thanh toán điện tử thông qua kết nối với các ngân hàng thương mại. Đến nay, ngành Hải quan đã kết nối với trên 30 ngân hàng thương mại, trên 90% giao dịch thanh toán thuế, lệ phí của hải quan đã thực hiện qua hệ thống thanh toán điện tử này. Thời gian thực hiện thanh toán từ ngân hàng sang hải quan chỉ kéo dài từ 3-5 phút. Việc đưa vào vận hành hệ thống thanh toán này đã góp phần giảm thời gian thông quan rất nhiều. Trước đây, khi chưa sử dụng hệ thống này, một giao dịch thanh toán của doanh nghiệp từ ngân hàng về tài khoản của hải quan tại kho bạc có khi tới vài ngày. Thậm chí có trường hợp do luân chuyển chứng từ giữa các đơn vị có thể lên tới hàng tuần. Như thế doanh nghiệp chưa thực hiện được thông quan hàng hoá. Điều đó cho thấy đóng góp của hệ thống thanh toán điện tử giúp cải thiện môi trường xuất nhập khẩu, giảm thiểu thời gian hoàn thành thủ tục hải quan, giảm thiểu chi phí lưu kho, lưu bãi cho doanh nghiệp.

Trên cơ sở triển khai thành công VNACCS/VCIS và để tiếp tục thực hiện cam kết của Chính phủ trong việc thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, Tổng cục Hải quan với vai trò là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Quốc gia về cơ chế một  cửa đã cùng các bộ, ngành khác tham mưu cho Chính phủ để triển khai đồng bộ kế hoạch thí điểm cơ chế một cửa. Điển hình là trong hai năm 2014-2015, ngành Hải quan đã phối hợp với các bộ, ngành triển khai trên 30 thủ tục hành chính của các bộ, ngành thông qua cơ chế một cửa quốc gia. Ngành Hải quan cũng tham mưu cho Chính phủ để triển khai thực hiện cam kết ASEAN trong đó chúng ta đã trình để kí nghị định thư về ASEAN một cửa và chuẩn bị các điều kiện kĩ thuật kết nối thử nghiệm với các nước trong ASEAN. Việt Nam là một trong bốn nước đầu tiên trong ASEAN đã kết nối thành công thử nghiệm giấy chứng nhất xuất xứ theo khuôn khổ của nghị định thư về triển khai cơ chế một cửa ASEAN. Đến thời điểm hiện tại chúng ta đã sẵn sàng kết nối với tất cả các nước trong khu vực ASEAN theo đúng tinh thần của nghị định thư, sau khi nghị định thư được tất cả các nước trong ASEAN ký và có hiệu lực chính thức. Có thể nói việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN là một điểm nhấn rất quan trọng.

Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đã tin học hoá tất cả các nghiệp vụ của ngành. Từ năm 2016, thực hiện Nghị quyết 36a của Chính phủ, theo chỉ đạo của lãnh đạo bộ, ngành Hải quan cũng đã xây dựng kế hoạch triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến. Đến nay, cùng với các thủ tục hành chính thực hiện trên VNACCS/VCIS  và  hệ thống hải quan điện tử thì trên 70% dịch vụ công của ngành Hải quan đã thực hiện trên hệ thống điện tử, trong đó hầu hết ở mức độ 4.

** Ông Bùi Thế Phương, Cục trưởng Cục CNTT, Kho bạc Nhà nước (KBNN): “KBNN sẽ hoàn thành việc triển khai các dịch vụ công điện tử trong lĩnh vực kiểm soát chi”      

Trong giai đoạn 2011-2015 và năm 2016, KBNN đã tập trung triển khai nhiều mảng công tác ứng dụng CNTT. Tiêu biểu, KBNN đã triển khai hệ thống quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) tập trung toàn quốc, quản lý toàn bộ chu trình quản lý ngân sách từ phân bổ dự toán kiểm soát cam kết chi, hạch toán chi ngân sách, thu ngân sách trên hệ thống TABMIS. Đây cũng là cơ sở nền tảng để KBNN thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo như là lập báo cáo tổng hợp quyết toán của ngân sách nhà nước.

Thứ hai, KBNN đã triển khai các ứng dụng phục vụ cho công tác thanh toán kết nối giữa KBNN và hệ thống ngân hàng, giúp KBNN tập trung ngân quỹ trên toàn hệ thống và làm giảm căng thẳng trong điều hành ngân quỹ. Từ đó tạo cơ sở cho giai đoạn tiếp theo quản lý ngân quỹ vừa hiệu quả vừa an toàn. Đồng thời KBNN cũng triển khai phối hợp thu với ngân hàng kết nối hiện đại hoá thu với hệ thống ngân hàng cùng với hệ thống thu của thuế, hải quan, qua đó rút ngắn thời gian thu ngân sách, tập trung thu nhanh chóng, kịp thời thu ngân sách nhà nước, thực hiện thu ngân sách bằng điện tử. Ngoài ra, KBNN cũng bắt đầu triển khai Nghị quyết 36a của Chính phủ, triển khai thí điểm hệ thống dịch vụ công chi ngân sách nhà nước và mở tài khoản tại KBNN. Hiện nay, KBNN đang xây dựng các hành lang pháp lý để triển khai mở rộng trong năm 2017 và 2018 góp phần tiến tới hình thành kho bạc điện tử trong giai đoạn tiếp theo.

Trong công tác chỉ đạo điều hành nội bộ KBNN cũng đã triển khai hệ thống tài chính kế toán nội bộ, triển khai hệ thống eDocTC, các hệ thống tập trung khác trong công tác chỉ đạo điều hành như: Cổng Thông tin điện tử nội bộ… để góp phần thay đổi phong cách, lề lối làm việc.

Trong giai đoạn 2016-2020, KBNN sẽ tập trung triển khai một số ứng dụng CNTT trọng tâm. Thứ nhất, KBNN sẽ triển khai và xây dựng hệ thống tổng kế toán nhà nước để tập trung toàn bộ thông tin dữ liệu từ các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, từ các quỹ tài chính nhà nước, từ các đơn vị quản lý vốn của nhà nước, các đơn vị quản lý tài sản của nhà nước để từ đó hình thành và lập nên báo cáo tổng hợp, báo cáo tài chính nhà nước, phục vụ công tác điều hành của Chính phủ, Quốc hội. Thứ hai, KBNN sẽ tập trung xây dựng các ứng dụng phục vụ công tác dự báo ngân quỹ nhà nước cũng như sử dụng ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi để tăng cường tính hiệu quả của ngân quỹ quốc gia. Thứ ba, KBNN sẽ hoàn thành việc triển khai các dịch vụ công điện tử trong lĩnh vực kiểm soát chi ngân sách nhà nước để từ đó hoàn thành kênh về giao dịch điện tử cũng như chi ngân sách hoàn toàn điện tử tiến tời hình thành kho bạc điện tử.

Tiếp theo nữa KBNN sẽ hoàn thành việc xây dựng và triển khai hệ thống ứng dụng để thu thập thông tin quyết toán ngân sách nhà nước, tạo cơ sở cho KBNN triển khai nhiệm vụ mới mà bộ giao cho là lập và báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước. Trong công tác quản trị nội bộ, KBNN sẽ tiếp tục tăng cường điện tử hoá, đặc biệt là quản lý cán bộ tập trung của ngành Tài chính, hệ thống quản lý tài sản tập trung của ngành Tài chính,  góp phần cho việc sử dụng hệ thống CNTT trong KBNN hoàn toàn điện tử.                                                                                                                  

** Ông Đoàn Thanh Tùng, Cục trưởng Cục CNTT, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN): “Sẽ tiếp tục khai thác có hiệu quả các hệ thống ứng dụng CNTT hiện có”

CNTT của UBCKNN giai đoạn 2011-2015 tập trung chủ yếu vào 3 vấn đề: Thứ nhất, chúng tôi đã xây dựng được các hệ thống ứng dụng cốt lõi, phục vụ cho công tác quản lý giám sát của UBCKNN đối với thị trường chứng khoán. Ví dụ như các dự án về quản lý công bố thông tin của các công ty đại chúng, hệ thống MSS phục vụ cho việc giám sát và công bố thông tin của sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán. Thứ hai, chúng tôi đã xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu cốt lõi về các đối tượng quản lý của UBCKNN. Thứ ba là xây dựng được hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho các thủ tục hành chính của UBCKNN. Tôi cho rằng đó là 3 nội dung quan trọng góp phần hình thành nên công tác quản lý, giám sát của UBCKNN.

Thách thức của CNTT ngành Chứng khoán giai đoạn tới là phải khai thác hiệu quả nhất cơ sở dữ liệu hiện có. Thời gian tới chúng tôi sẽ tập trung vào việc kết nối các cơ sở dữ liệu hiện có để đạt được hiệu quả khai thác tối đa phục vụ cho công tác quản lý giám sát của UBCKNN. Trong kế hoạch ứng dụng CNTT ngành Chứng khoán 5 năm tới, chúng tôi sẽ tiếp tục khai thác có hiệu quả các hệ thống ứng dụng CNTT hiện có, đặc biệt chúng tôi lưu ý tới việc phải kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu hiện có của ngành Chứng khoán để khai thác hiệu quả phục vụ cho công tác quản lý, giám sát của UBCKNN. Đồng thời, chúng tôi cũng đẩy mạnh tập trung vào việc khai thác hệ thống dịch vụ công trực tuyến để cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực chứng khoán.

** Ông Nguyễn Trần Duy, Cục trưởng Cục CNTT, Tổng cục Dự trữ Nhà nước: “Sẽ xây dựng được các chương trình ứng dụng tác nghiệp”

CNTT ngành Dự trữ giai đoạn 2011-2015 đã đạt được một số kết quả nổi bật. Cụ thể dưới giác độ về chỉ đạo điều hành hàm lượng thông tin từ các ứng dụng CNTT cung cấp cho công tác chỉ đạo điều hành của ngành Dự trữ đã tăng lên đáng kể. Thứ hai, xuất phát điểm từ đơn vị gần như con số 0 về hạ tầng kĩ thuật, đến thời điểm này Tổng cục Dự trữ Nhà nước đã có một hạ tầng gần như bằng với các tổng cục khác trong ngành Tài chính. Thứ ba là đã tạo nền tảng bước đầu trong công tác triển khai xây dựng các ứng dụng tác nghiệp nói riêng, cũng như hệ thống điều hành nói chung của ngành Tài chính thời gian tới.

Trong giai đoạn 2016-2020 tiếp nối kết quả đã đạt được chúng tôi xác định định hướng lớn nhất đó là sẽ xây dựng được các chương trình ứng dụng tác nghiệp, đồng thời tích hợp tạo hệ thống thông tin ngành Dự trữ ở mức độ cơ bản.

** Ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông: Bộ Tài chính cũng cần sớm xây dựng Kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ Tài chính

Thay mặt lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, tôi xin chúc mừng những thành tựu to lớn trong công tác ứng dụng CNTT của toàn ngành Tài chính trong những năm vừa qua, góp phần không nhỏ vào sự phát triển theo hướng hiện đại hoá của ngành Tài chính nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.

Trong nhiều năm qua, Bộ Tài chính luôn dẫu đầu trong khối các bộ, cơ quan ngang bộ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện các mục tiêu chung của quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn, nâng cao năng lực cạnh canh của quốc gia. Theo đánh giá mức độ ứng dụng CNTT năm 2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông mới công bố ngày 9/5/2017 vừa qua, Bộ Tài chính tiếp tục là bộ dẫn đầu về ứng dụng CNTT, với những kết quả nổi bật.

Các kết quả đạt được trong những năm qua của ngành Tài chính đã góp phần thực hiện một số mục tiêu ứng dụng CNTT của Chính phủ đối với ngành Tài chính theo Quyết định số 1605/2010/QĐ-TTg ngày 27/8/2010, Quyết định số 1819/2016/QĐ-TTg ngày 26/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020 và Nghị quyết 36a của Chính phủ về Chính phủ điện tử.

Có được các kết quả nổi bật  như trên là do có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Bộ Tài chính, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan thuộc Bộ Tài chính và vai trò rất lớn của Cục Tin học và Thống kê tài chính – đơn vị chuyên trách CNTT của Bộ Tài chính trong công tác tham mưu, hoàn thiện, cụ thể hóa hệ thống chính sách, quy định, quy chế về ứng dụng CNTT, cũng như nỗ lực của toàn thể lãnh đạo, cán bộ các cơ quan đơn vị ngành Tài chính.

Để hoạt động ứng dụng CNTT của ngành Tài chính trong thời gian tới mang lại kết quả cao hơn nữa, căn cứ các mục tiêu, nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra giai đoạn 2016-2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị Bộ Tài chính quan tâm, tập trung ứng dụng CNTT thực hiện một số mục tiêu, nhiệm vụ chính, đó là: Triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Chính phủ giao cho Bộ Tài chính nêu tại Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử; Quyết định số 1819/2016/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016-2020; Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tập trung triển khai hiệu quả  Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước ngành Tài chính giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 556/2016/QĐ-BTC ngày 24/3/2016).

Bộ Tài chính cũng cần sớm xây dựng Kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ Tài chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1819/2015/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 để tạo nền tảng cho việc triển khai ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính được hiệu quả, đồng bộ, hướng tới kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu (CSDL) trong và ngoài ngành Tài chính, góp phần xây dựng thành công Chính phủ điện tử Việt Nam; đẩy mạnh triển khai CSDL quốc gia về tài chính đã được Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh mục CSDL quốc gia ưu tiên triển khai tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử (Quyết định số 714/QĐ-TTg); nâng cao hiệu quả hơn nữa chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, hướng tới ít nhất 30% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến tại mức độ 4 vào năm 2020; phấn đấu 50% số hộ, cá nhân kinh doanh kê khai nghĩa vụ thuế phát sinh qua mạng từ việc cho thuê tài sản và lệ phí trước bạ khi đăng kí ô tô, xe máy.

Bộ Tài chính cũng cần tiếp tục duy trì, triển khai nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các hệ thống thông tin thuế, hải quan để thực hiện mục tiêu giảm thời gian nộp thuế xuống còn 119 giờ; thời gian thực hiện thủ tục xuất – nhập khẩu xuống 70 giờ và 90 giờ theo Nghị quyết 19-2017/NQ-CP; đẩy mạnh triển khai các giải pháp đảm bảo an toàn thông tin các hệ thống thông tin, CSDL của ngành Tài chính.

Tôi tin tưởng rằng, với những nền tảng ứng dụng CNTT ngành Tài chính tạo lập được trong những năm vừa qua, với sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo bộ và sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng, Bộ Tài cính sẽ xây dựng thành công Bộ Tài chính điện tử, tiếp tục là bộ dẫn đầu về ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2016-2020, góp phần xây dựng thành công Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan quản lý nhà nước về CNTT và Chính phủ điện tử cam kết sẽ đồng hành với Bộ Tài chính trong hoạt động ứng dụng CNTT, xây dựng Bộ Tài chính điện tử, kịp thời xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu và thực tiễn ứng dụng CNTT của ngành Tài chính.

Tường Lâm – Thanh Huyền (lược ghi)