Một số điểm nổi bật trong xây dựng Chính phủ điện tử của Bộ Tài chính

(eFinance Online) - Với việc liên tiếp dẫn đầu chỉ số Vietnam ICT index (06 năm liên tiếp từ năm 2013 đến năm 2018) trong khối các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ Tài chính được đánh giá là đơn vị có nhiều đột phá trong việc ứng dụng CNTT đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công của Bộ Tài chính, đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, phát triển tài chính điện tử dựa trên dữ liệu và dữ liệu mở hướng tới tài chính số. Năm 2017, Bộ Tài chính cũng được đánh giá là đơn vị đứng đầu về chỉ số tổng hợp mức độ phát triển Chính phủ điện tử khối các bộ, cơ quan ngang Bộ.
Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính còn đi đầu trong công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC). Có thể khẳng định công tác cải cách TTHC của Bộ Tài chính được tiến hành tích cực, là bộ đi đầu trong công tác cải cách TTHC. Đến nay, Bộ Tài chính đã cắt giảm được 1.072  TTHC trong lĩnh vực tài chính. Bộ Tài chính đã công khai toàn bộ 987 TTHC thuộc các lĩnh vực tài chính chung, hải quan, thuế, kho bạc nhà nước và chứng khoán. Trong đó, lĩnh vực tài chính chung có 293 TTHC, thuế có 298 TTHC, hải quan có 183 TTHC, chứng khoán có 184 TTHC và kho bạc có 22 TTHC, dự trữ có 7 TTHC.

Ngoài ra Bộ Tài chính đã đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý văn bản điều hành thông qua việc triển khai chương trình quản lý văn bản và điều hành - eDocTC theo mô hình tập trung thống nhất tới các đơn vị thuộc Bộ Tài chính. Đến nay, chương trình eDocTC đã cơ bản hoàn thành, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý văn bản và điều hành của các cấp Lãnh đạo, tích hợp chữ ký số với chương trình eDocTC để ký số trên văn bản đi phát hành điện tử và đã thực hiện quét 100% văn bản đến thành tệp điện tử bước đầu áp dụng thay thế gửi văn bản giấy bằng văn bản điện tử có ký số.

Bộ Tài chính cũng là bộ đầu tiên ban hành Nghị quyết số 02-NQ/BCSD ngày 09/3/2018 của về triển khai ứng dụng công nghệ của CMCN lần thứ 4 trong lĩnh vực tài chính – ngân sách.

Một số kết quả chính

Tính đến hết tháng 12/2018, trên chuyên trang dịch vụ công trực tuyến của Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính đã công khai toàn bộ 987 TTHC (Cơ quan Bộ Tài chính 293 TTHC; Tổng cục Thuế 298 TTHC; Tổng cục Hải quan 183 TTHC; Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước 184 TTHC; Kho bạc Nhà nước 22 TTHC; Tổng cục Dự trữ Nhà nước 7 TTHC). Trong đó, số lượng TTHC mức độ 1 là 127, số lượng TTHC mức độ 2 là 404, số lượng TTHC mức độ 3 là 163, số lượng TTHC mức độ 4 là 293.. Đồng thời, Bộ Tài chính đã nghiên cứu, xây dựng giao diện đánh giá mức độ hài lòng của người sử dụng đối với dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 cho phép người sử dụng tham gia đánh giá chất lượng dịch vụ công trực tuyến, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan thuộc Bộ Tài chính.

Hệ thống Cổng thông tin điện tử ngành Tài chính gồm: Cổng TTĐT Bộ Tài chính và 107 Cổng thông tin điện tử/Trang thông tin điện tử của các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Bộ (tính đến cấp Cục). Trong đó có 26/30 đơn vị thuộc Bộ có chuyên trang/chuyên mục trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính. Tất cả các đơn vị hệ thống đều có Cổng thông tin điện tử. Số lượng đơn vị cấp Cục có Cổng/trang trên Internet là như sau: Tổng cục Thuế có 63/63 đơn vị; Tổng cục Hải quan có 31/34 đơn vị; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có 1/2 đơn vị trực thuộc có Cổng/trang thông tin. Tổng cục Dự trữ Nhà nước tập trung toàn bộ thông tin của 23/23 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực tại Cổng thông tin điện tử của Tổng cục; 10/10 các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ có Cổng/Trang TTĐT trên Internet.

Các nội dung thông tin, dữ liệu và dịch vụ cung cấp trên hệ thống Cổng thông tin điện tử ngành Tài chính hiện nay cơ bản đáp ứng được yêu cầu của người dùng về tính chính xác và kịp thời: Tổng số 987 TTHC toàn ngành được công bố trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính; toàn bộ hệ thống văn bản pháp quy ngành Tài chính từ năm 1945 đến nay cũng được cung cấp đầy đủ trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính; CSDL lớn câu hỏi, trả lời trong chuyên mục hỏi đáp chính sách tài chính của người dân, doanh nghiệp được đăng tải tương đối đầy đủ, kịp thời; toàn bộ thông tin về đấu thầu được đăng tải công khai, kịp thời cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp tham gia đấu thầu các gói thầu trong toàn ngành Tài chính.

Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã phát triển, quản lý và vận hành nhiều hệ thống thông tin lớn, cốt lõi trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được Đảng và Nhà nước giao Bộ theo dõi, quản lý, đặc biệt là trong các lĩnh vực chuyên ngành tài chính, thuế, hải quan, ngân sách, kho bạc, chứng khoán, dự trữ. Các hệ thống thông tin này đã góp phần quan trọng trong nỗ lực cải cách TTHC, nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong công tác quản lý tài chính - ngân sách của Bộ Tài chính.

Cụ thể đối với lĩnh vực thu NSNN: Bộ Tài chính đã triển khai mở rộng hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa cơ quan thuế - kho bạc nhà nước - hải quan - tài chính. Từ năm 2013, hệ thống đã được triển khai cho 2.560 điểm (cơ quan thuế 740,  kho bạc nhà nước 740, cơ quan tài chính 740, cơ quan hải quan 340). Hiện nay toàn bộ các giao dịch về thu ngân sách nhà nước đều được điện tử hóa và truyền nhận qua Trung tâm trao đổi trung ương đặt tại Bộ Tài chính, phục vụ ổn định 24/24 giờ, trung bình 1 năm có khoảng 16 triệu chứng từ/biên lai thu (bảng kê, danh bạ, số thuế, tờ khai, lệnh hoàn, gói phản hồi, chứng từ) được truyền nhận.

Việc triển khai hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế không những mang lại hiệu quả cho công tác quản lý thu NSNN của ngành Tài chính mà còn mang lại hiệu quả cho toàn xã hội: góp phần cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho việc thu nộp NSNN của người nộp thuế; thông tin nhanh số thu vào NSNN qua kho bạc; giảm nguồn lực nhập cùng loại thông tin về chứng từ thu tại các đơn vị thuộc ngành Tài chính; khắc phục tình trạng không thống nhất về thông tin thu nộp; giảm thông tin giấy tờ qua việc áp dụng chữ ký số vào trao đổi thông tin giữa các đơn vị.

Bên cạnh đó, các hệ thống thông tin kết nối thu ngân sách Nhà nước với các ngân hàng thương mại, hệ thống thanh toán song phương với các ngân hàng thương mại và hệ thống thanh toán liên ngân hàng cũng đã được thiết lập và vận hành ổn định. Hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế có sự trao đổi dữ liệu qua lại với hệ thống phối hợp thu ngân sách giữa kho bạc và ngân hàng vừa giúp giảm nhân lực tổ chức thu thuế cho hệ thống kho bạc, vừa giúp tiết kiệm tối đa thời gian cho người nộp thuế.

Đối với lĩnh vực ngân sách và kho bạc: Hệ thống TABMIS đã được triển khai áp dụng ổn định từ năm 2012 tại các cơ quan thuộc Bộ Tài chính, các cơ quan tài chính và KBNN cấp tỉnh, cấp huyện tại 63 tỉnh, thành phố trên phạm vi toàn quốc, 37 bộ, ngành, 03 sở, ban, ngành của TP. Hà Nội với khoảng 15.000 người sử dụng (số lượng người sử dụng thường xuyên khoảng trên 11.000 người). Việc triển khai thành công hệ thống TABMIS là một bước tiến lớn về hiện đại hoá công tác quản lý ngân sách nhà nước từ khâu phân bố dự toán, thực hiện thu, chi, kế toán và báo cáo ngân sách, nâng cao tính minh bạch trong thực hiện kế toán thu - chi ngân sách nhà nước.

Hệ thống TABMIS với chức năng và quy trình nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, hướng tới chuẩn mực và thông lệ tốt về quản lý tài chính công trong khu vực và thế giới, đồng thời có điều chỉnh cho phù hợp với Việt Nam. Hiện hệ thống TABMIS vận hành với 6 phân hệ: Sổ cái, phân bố ngân sách, quản lý thu, quản lý cam kết chi, quản lý chi, các báo cáo, đồng thời giao diện trao đổi dữ liệu với các hệ thống khác, được sử dụng chung giữa cơ quan tài chính, kho bạc từ trung ương đến tỉnh, huyện và các đơn vị dự toán cấp 1 lớn thuộc ngân sách trung ương trong giao dịch nghiệp vụ hàng ngày và khai thác số liệu, báo cáo phục vụ kịp thời công tác quản lý điều hành của các cấp lãnh đạo. Bên cạnh đó, các hệ thống thông tin quản lý thu ngân sách nhà nước, kết nối thu ngân sách Nhà nước với các ngân hàng thương mại, hệ thống thanh toán song phương với các ngân hàng thương mại và hệ thống thanh toán liên ngân hàng cũng đã được thiết lập và vận hành ổn định.

Bên cạnh hệ thống TABMIS, phần mềm quản lý ngân sách nhà nước được triển khai tại cơ quan tài chính trợ giúp công tác lập dự toán, điều hành và quyết toán ngân sách nhà nước (quản lý dự toán được phân bố; cấp phát thông tri/lệnh chi; theo dõi chứng từ thu/chi; trao đổi dữ liệu điện tử về thu/chi ngân sách với TABMIS; Lập các sổ sách, báo cáo phục vụ điều hành, quyết toán ngân sách). Đến năm 2013, khi hệ thống TABMIS được triển khai, phần mềm quản lý ngân sách đóng vai trò là một hệ thống phụ trợ cho TABMIS, tăng cường trợ giúp cơ quan Tài chính trong công tác khai thác báo cáo điều hành và quyết toán ngân sách nhà nước.

Đối với lĩnh vực thuế: Từ năm 2009, Tổng cục Thuế đã xây dựng hệ thống ứng dụng quản lý thuế thu nhập cá nhân (TNCN) sử dụng giải pháp tích hợp của hãng SAP theo mô hình xử lý tập trung trên phạm vi toàn quốc. Đến hết năm 2012, Tổng cục Thuế đã triển khai  thành công hệ thống ứng  dụng  quản  lý  thuế thu  nhập  cá  nhân (TNCN) cho 63 cục thuế và gần 700 cơ quan thuế quận, huyện.  Đây là hệ thống quản lý thuế tích hợp tập trung cho phép xử lý và quản lý tập trung thông tin thuế TNCN trên phạm vi toàn quốc.

Hệ thống đã xử lý đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho hơn 10 triệu cá nhân và hỗ trợ cán bộ thuế trong các khâu quản lý thuế như: phân loại người nộp thuế, đôn đốc kê khai, xử lý tờ khai và tính thuế, kế toán người nộp thuế, kế toán thu ngân sách, thu thuế và quản lý nợ... Đặc biệt hệ thống có thể hỗ trợ cơ quan thuế kiểm tra và thực hiện quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN cho người nộp thuế trên phạm vi toàn quốc... Ngoài ra, năm 2015 Tổng cục Thuế đã hoàn thành triển khai hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS) trên phạm vi toàn quốc để hỗ trợ cho 63 cục thuế và gần 700 chi cục thuế trong công tác quản lý thuế. Đây là nền tảng để triển khai mở rộng các dịch vụ điện tử tiện ích cung cấp cho người nộp thuế (NNT) và hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành Thuế. Hệ thống quản lý thuế tập trung được xây dựng theo chuẩn quốc tế đã tích hợp và thay thế 16 ứng dụng quản lý thuế phân tán và là một trong các hệ thống thông tin cốt lõi trong lĩnh vực thuế.

Bên cạnh đó nhằm tạo lập các điều kiện kỹ thuật cho việc triển khai các công cụ hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, ngành Thuế bước đầu tập hợp thông tin về người nộp thuế và tình hình thu, nộp thuế trên toàn quốc đồng thời thực hiện nâng cấp CSDL tập trung về doanh nghiệp.

Đối với lĩnh vực hải quan: Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS được triển khai tại 100% các đơn vị hải quan trên phạm vi toàn quốc với hơn 99,65% doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức điện tử. Hệ thống VNACCS/VCIS cùng với các hệ thống thông quan (e-Declaration) và hệ thống thanh toán thuế (e-payment), ... được triển khai đồng bộ, có kết nối, trao đổi thông tin đã đảm nhận và xử lý thông tin phục vụ thông quan, hàng hóa xuất khấu, nhập khẩu, quá cảnh hoàn toàn trên môi trường điện tử theo mô hình xử lý tập trung.

Thông qua việc đẩy mạnh triển khai xây dựng các hệ thống giám sát, quản lý rủi ro trên lĩnh vực thuế và hải quan trên đã có các đóng góp tích cực trong hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về giám sát, quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan và thuế ngày càng hiệu quả và hiệu lực.

Đối với lĩnh vực chứng khoán: Hệ thống CNTT đã được ứng dụng trong giao dịch, lưu ký chứng khoán và được áp dụng chung cho sở giao dịch chứng khoán cũng như Trung tâm lưu ký. Từ năm 2013, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã xây dựng và triển khai 2 hệ thống phục vụ công bố thông tin và giám sát giao dịch gồm: Hệ thống công bố thông tin cho công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán (IDS) nhằm quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán. Đến nay đã có gần 100% công ty đại chúng đăng ký sử dụng và khoảng 90% công ty đại chúng đã thực hiện công bố thông tin với tổng số lượng gần 130.000 báo cáo. Hệ thống giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán (MSS) thực hiện các phân tích trên những dữ liệu của thị trường để hỗ trợ và phục vụ cho công tác quản lý và giám sát thị trường chứng khoán.

Đối với lĩnh vực dự trữ: Hệ thống quản lý vật tư hàng hóa, kho tàng dự trữ Nhà nước đã được xây dựng, triển khai theo mô hình tập trung và được sử dụng thống nhất trên cả 03 cấp của hệ thống dự trữ nhà nước nhằm hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản hàng hóa dự trữ quốc gia.

Đối với lĩnh vực quản lý nợ: Hệ thống phân tích tài chính và quản lý nợ (DMFAS) vận hành chính thức từ tháng 8/2013 với các chức năng chính gồm: Quản lý nợ công của Chính phủ, giám sát các rủi ro tài chính từ các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp Nhà nước; Hỗ trợ phát triển việc ghi chép nợ trong nước và quản lý rủi ro trong Chính phủ cũng như việc tổng hợp tổng thể công tác quản lý nợ thông qua giao diện với TABMIS (cung cấp cho TABMIS các thông tin về trái phiếu Chính phủ, chứng từ ghi thu - ghi chi, rút vốn vay, ... từ năm 2000 cho đến nay); Quản lý các khoản viện trợ và các khoản vay nước ngoài, cung cấp một danh mục các khoản thanh toán trả nợ sắp phải trả theo lịch trả nợ và dư nợ phải trả, hỗ trợ TABMIS trong việc chuẩn bị yêu cầu thanh toán trả nợ nước ngoài.

Trong quá trình vận hành hệ thống, do có sự thay đổi của cơ chế chính sách liên quan đến quy trình chi trả nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ trên hệ thống TABMIS khiến một số chức năng của hệ thống không đáp ứng được quy trình nghiệp vụ, không vận hành được. Hiện nay Bộ Tài chính đang tiến hành nâng cấp hệ thống DMFAS từ phiên bản 5.3 lên phiên bản 6.0 nhằm khắc phục các hạn chế về nền tảng kỹ thuật – công nghệ của hệ thống DMFAS phiên bản 5.3.

Đối với lĩnh vực quản lý tài sản công: Năm 2017 Bộ Tài chính đã hoàn thành dự án triển khai phần mềm quản lý, đăng ký tài sản công nâng lên phiên bản 4.0 theo mô hình tập trung, hỗ trợ việc đăng ký, quản lý tài sản công của các đơn vị sử dụng ngân sách với các tài sản là đất, nhà, ô tô và các tài sản cố định khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên/01 đơn vị tài sản, triển khai cho 127 đơn vị đầu mối là: 63 sở tài chính và 64 bộ, ngành cơ quan trung ương. Bên cạnh phần mềm quản lý, đăng ký tài sản công, Cục Quản lý công sản cũng đã triên khai 02 phần mềm mở rộng phạm vi quản lý tài sản công: Phần mềm quản lý tài sản là công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung và phần mềm tổng hợp số liệu kiểm kê tài sản hạ tầng đường bộ.

Đối với lĩnh vực thông tin thống kê dự báo: Thời gian qua Bộ Tài chính đã tập trung hoàn thiện thể chế, khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động thống kê của toàn ngành, địa phương và hoạt động thống kê của các hệ thống thuộc Bộ. Để nâng cao chất lượng thông tin thống kê, công tác thu thập thông tin cũng được thực hiện qua hình thức đa dạng, phong phú. Hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê tài chính mới đã từng bước bảo đảm tính đồng bộ và là nguồn thông tin đầu vào tin cậy của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác.

Bên cạnh việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong triển khai công tác thống kê tài chính, Bộ Tài chính đã tăng cường nghiên cứu, ứng dụng CNTT để hình thành các bảng mã phân loại thống kê tập trung, đáp ứng tốt các yêu cầu sử dụng trong các hệ thống phần mềm tập trung của ngành Tài chính. Hệ thống danh mục điện tử dùng chung là một hệ thống dữ liệu quan trọng đã được xây dựng, cập nhật phục vụ cho việc tích hợp, trao đổi thông tin, phân loại, phân tổ kế toán, thống kê trong các hệ thống thông tin của ngành Tài chính như: Kế toán kho bạc, quản lý ngân sách, hệ thống trao đổi số liệu thu nộp thuế, quản lý tài sản công, ... đặc biệt đây là hệ thống đã cung cấp các bảng mã chính (hệ thống COA) phục vụ tích cực cho việc triển khai thành công dự án Hệ thống thông tin Quản lý ngân sách và Kho bạc (Dự án TABMIS).

Ngành Tài chính hiện đang quản lý và vận hành một số cơ sở dữ liệu (CSDL) chuyên đề thuộc CSDL quốc gia về tài chính. Ngoài ra, ngành Tài chính cũng đã xây dựng và phát triển một số CSDL chuyên ngành (do các Tổng cục và các Cục quản lý) nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù ngành của đơn vị, cụ thể như sau:

CSDL chuyên đề thuộc CSDL về tài chính: CSDL thu, chi ngân sách được thiết kế, xây dựng lần đầu năm 2003 có chức năng thu thập, tổng hợp, lưu trữ, xử lý và cung cấp các thông tin ngân sách như: Thông tin về tình hình thực hiện chấp hành thu, chi ngân sách hàng tháng, quý và năm chi tiết theo mục lục ngân sách; Thông tin về quyết toán NSNN lưu các thông tin số liệu về các báo cáo quyết toán thu, chi NSNN hàng năm; Nhóm báo cáo công khai ngân sách là những báo cáo có sẵn, được đính kèm tập tin (file), hoặc nhập dữ liệu trực tiếp theo biểu mẫu (form) định sẵn; Nhóm dữ liệu tổng hợp báo cáo lưu các thông tin về dữ liệu tổng hợp báo cáo sinh ra từ các dữ liệu gốc. Việc cập nhật dữ liệu từ hệ thống TABMIS vào CSDL thu, chi NSNN được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 123/2014/TT-BTC ngày 27/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn tổ chức vận hành, khai thác Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS).

CSDL người nộp thuế (CSDL NNT): nhằm mục đích cập nhật thông tin về NTN, lịch sử của NNT và tình hình thu nộp thuế của NNT, phục vụ công việc khai thác, phân tích, tra cứu, thống kê một cách thuận tiện và hiệu quả trên trang web nội bộ của Bộ Tài chính. Nguồn dữ liệu cung cấp cho CSDL NNT là các dữ liệu tác nghiệp được đồng bộ từ Tổng cục Thuế, bao gồm: thông tin về các Đối tượng nộp thuế, thông tin về tình hình thu nộp thuế. CSDL lưu trữ, xử lý được khoảng 40 triệu mã số đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp, hợp tác xã, mã số thuế cá nhân và hệ thống các chỉ tiêu quản lý của NNT được cập nhật hàng ngày.

CSDL đơn vị có quan hệ ngân sách: CSDL đơn vị có quan hệ với ngân sách là ứng dụng cấp mã đơn vị có quan hệ với ngân sách. Hệ thống được cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước tại trung ương và địa phương sử dụng trong công tác cấp và quản lý mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách, mã giao dịch với cơ quan kho bạc. Tổng số mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách đã cấp được khoảng 660 nghìn đơn vị, trong đó có khoảng 146 nghìn đối tượng là đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị khác có quan hệ với ngân sách và khoảng 514 nghìn mã số dự án đầu tư.

CSDL văn bản pháp quy: Thu thập, lưu trữ các văn bản pháp quy liên quan đến tài chính ngân sách. CSDL này lưu trữ được khoảng hơn 30.000 văn bản, trong đó có hơn 8.000 văn bản của ngành Tài chính, hơn 23.000 văn bản của các đơn vị ngoài ngành Tài chính. CSDL về văn bản pháp quy được cập nhật đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả và thường xuyên được sử dụng, khai thác với trung bình khoảng hơn 60.000 lượt truy cập mỗi ngày.

CSDL danh mục dùng chung (DMDC): CSDL lưu trữ, quản lý các bảng mã phân loại tập trung của ngành Tài chính theo quy định về Hệ thống danh mục điện tử dùng chung trong lĩnh vực Tài chính tại Thông tư số 18/2017/TT-BTC ngày 28/02/2017 của Bộ Tài chính. Dữ liệu về DMDC được cập nhật hàng ngày phục vụ cho việc tích hợp, trao đổi thông tin, phân loại, phân tổ kế toán, thống kê trong các phần mềm ứng dụng, hệ thống thông tin của ngành Tài chính (Kế toán kho bạc, Quản lý ngân sách, Hệ thống trao đổi số liệu thu nộp Thuế (TCS), Quản lý tài sản công, ...). Đây cũng là CSDL cung cấp các bảng mã chính (mã COA) phục vụ tích cực cho việc triển khai thành công dự án TABMIS.

Cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác: Tổng cục Hải quan đã xây dựng, triển khai một số CSDL chính như: CSDL thông tin tình báo Hải quan – VCIS; CSDL hệ thống E-Customs; CSDL KT-559; CSDL E-Manifest; CSDL hệ thống thông quan hàng hóa tự động Việt Nam... Việc xây dựng các CSDL này đã góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan, thúc đẩy chuyển đổi mô hình CNTT từ phân tán sang mô hình CNTT tập trung tại Tổng cục Hải quan; nâng cao chất lượng công tác điều tra chống buôn lậu; công tác kiểm tra sau thông quan; đáp ứng các yêu cầu quản lý, khai thác số liệu của các cơ quan Hải quan.

Tổng cục Thuế: Đã xây dựng CSDL tập trung thông tin đầy đủ, chính xác về người nộp thuế và tình hình thu, nộp thuế trên toàn quốc; CSDL tập trung về doanh nghiệp; xây dựng và triển khai ứng dụng khai thác thông tin từ CSDL tập trung này phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, hình thành CSDL về quản lý thuế tập trung tại Tổng cục Thuế theo tiến độ triển khai của ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS).

Tổng cục Dự trữ Nhà nước: Đang chuẩn bị triển khai xây dựng CSDL dự trữ Nhà nước. CSDL này sau khi hoàn thành sẽ hình thành kho dữ liệu tập trung, tổng hợp dữ liệu toàn ngành về dự trữ quốc gia, phục vụ tối thiểu 60% thông tin cho công tác điều hành, ra quyết định và xây dựng cơ chế, chính sách quản lý dự trữ nhà nước. Dữ liệu tổng hợp của các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục Dự trữ Nhà nước được thu thập, tổng hợp và chuyển đổi vào kho dữ liệu trên cơ sở các chiều thông tin liên quan. CSDL Dự trữ Nhà nước là tiền đề xây dựng các chỉ tiêu hỗ trợ đánh giá, truy vấn, phân tích, xử lý số liệu phục vụ hệ thống thông tin báo cáo sắp triển khai.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: triển khai và đưa vào vận hành 05 Hệ thống CSDL bao gồm: Hệ thống CSDL quản lý Công ty chứng khoán – SCMS; Hệ thống CSDL quản lý Công ty quản lý Quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán – FMS; Hệ thống CSDL quản lý Nhà đầu tư nước ngoài; Hệ thống CSDL quản lý Người hành nghề chứng khoán; Hệ thống CSDL phục vụ công tác thanh tra. Việc xây dựng và triển khai các CSDL này thực sự đã giúp Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nâng cao rõ rệt năng lực quản lý, giám sát thị trường chứng khoán để bảo về nhà đầu tư và nâng cao tính minh bạch, công bằng của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Cục Quản lý công sản: CSDL về tài sản công do Cục Quản lý công sản quản lý, vận hành và hướng dẫn các đơn vị cập nhật dữ liệu. Sau khi Quốc hội ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tiết kiệm chi phí của việc công khai và báo cáo quản lý, sử dụng công. Nhóm các loại tài sản công được lưu trữ tại CSDL về tài sản công gồm: Đất; Nhà; Ô tô; Tài sản khác đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định; Tài sản kết cấu hạ tầng (công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung; tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa; tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải; tài sản kết cấu hạ tầng hàng không; tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi; …); tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ và công nghệ sử dụng vốn nhà nước; tài sản xác lập quyền sở hữu toàn dân; đất đai; tài nguyên khác. Hiện tại, Cục Quản lý công sản đã triển khai xây dựng và đưa vào vận hành CSDL quốc gia về tài sản công để quản lý các nhóm tài sản lớn gồm: đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; nhà thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; xe ô tô các loại ( xe phục vụ chức danh, xe phục vụ chung, xe chuyên dùng); các loại tài sản khác có nguyên giá tự 500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản; tài sản là công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung; tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

Cục Quản lý giá: CSDL quốc gia do Cục Quản lý giá quản lý, vận hành lưu trữ, cập nhật thông tin giá cả các mặt hàng thiết yếu từ địa phương phục vụ công tác tra cứu giá thị trường, phân tích chỉ số giá, dự báo giá của Bộ Tài chính. Từ năm 2012, Cục Quản lý giá đã phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thành xây dựng, triển khai phần mềm quản lý giá cả thị trường hàng hóa, dịch vụ (phần mềm 2.0) tại 63 sở tài chính địa phương nhằm thu thập xử lý thông tin về giá cả thị trường hàng hoá, dịch vụ trong và ngoài nước, tăng cường công tác quản lý điều hành giá và bình ổn giá, hỗ trợ công tác thẩm định giá. Việc triển khai sử dụng phần mềm 2.0 bước đầu góp phần hình thành CSDL về giá và tạo nguồn dữ liệu cho CSDL quốc gia về giá đang được xây dựng trong năm 2018.

Đến nay, về cơ bản hệ thống dữ liệu tài chính đã được duy trì, cập nhật đáp ứng cơ bản yêu cầu quản lý nghiệp vụ của các đơn vị thuộc Bộ. Việc thiết kế, xây dựng các CSDL nêu trên đã có các yêu cầu về khả năng tích hợp với các hệ thống thông tin khác trong ngành Tài chính.

Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành danh mục CSDL chuyên ngành của Bộ Tài chính tại Quyết định số 2575/QĐ-BTC ngày 15/12/2017 với đối tượng áp dụng là các đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính, các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong và ngoài ngành Tài chính có hoạt động liên quan đến xây dựng, cập nhật, kết nối, khai thác và sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính. Danh mục bao gồm 12 CSDL gồm: Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Thuế; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Kho bạc; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Hải quan; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Chứng khoán; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Dự trữ nhà nước; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Giá; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Bảo hiểm; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Nợ công; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Tài sản công; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý thu, chi ngân sách nhà nước; Cơ sở dữ liệu danh mục điện tử dùng chung ngành Tài chính.

Ứng dụng CNTT trong nội bộ

Bên cạnh việc triển khai xây dựng các hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu nhằm từng bước hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuế, hải quan, ngân quỹ... Bộ Tài chính cũng dành nhiều nguồn lực để xây dựng các hệ thống CNTT phục vụ công tác quản lý nội ngành nhằm từng bước nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tài chính. Một số kết quả chính của công tác triển khai ứng dụng CNTT trong nội bộ Bộ Tài chính như sau: Các thông tin chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo cấp Bộ hầu hết đã được đưa lên Trang/Cổng thông tin điện tử nội bộ của Bộ Tài chính và các Tổng cục.

Ứng dụng CNTT nội ngành: Bộ Tài chính đã triển khai phần mềm kế toán nội bộ trên cơ sở phần mềm kế toán KBNN cho các đơn vị thuộc Bộ theo Thông báo số 300/TB-BTC ngày 17/6/2016.

Chương trình quản lý văn bản và điều hành: Đã được triển khai, khai thác sử dụng hiệu quả ở trụ sở cơ quan Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Dự trữ Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Toàn bộ văn bản đến, văn bản đi, tờ trình Lãnh đạo Bộ (trừ các văn bản có nội dung mật) đã được quét, xử lý, lưu trữ trên chương trình quản lý văn bản và điều hành. Việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa cơ quan Bộ và các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Tài chính cũng được thực hiện hiệu quả thông qua việc kết nối các chương trình quản lý văn bản và điều hành của các đơn vị với hệ thống trục liên thông văn bản điện tử ngành Tài chính.

100% cán bộ, công chức được cấp và thường xuyên sử dụng thư điện tử trong công việc.

Từ năm 1997, Bộ Tài chính đã đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ cán bộ công chức. Sau nhiều lần nâng cấp, đến năm 2004 phiên bản phần mềm quản lý cán bộ 4.0 (QLCB 4.0) đã được triển khai mở rộng cho các đơn vị thuộc 03 Tổng cục (Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế). Hiện nay, Bộ Tài chính đang triển khai xây dựng hệ thống thông tin quản lý cán bộ Bộ Tài chính theo mô hình tập trung nhằm nâng cấp chức năng, nền tảng công nghệ của phần mềm quản lý cán bộ 4.0 đáp ứng tốt hơn nữa các yêu cầu nghiệp vụ của công tác quản lý cán bộ trong ngành Tài chính.

Quản lý thi đua khen thưởng: Bộ Tài chính đã phối hợp với các đơn vị hoàn thành triển khai phần mềm quản lý thi đua khen thưởng cho Bộ Tài chính, 05 Tổng cục (tới cấp Cục), một số đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ, hỗ trợ và quản lý dữ liệu thi đua khen thưởng của tập thể và cá nhân ngành Tài chính. Các phong trào thi đua từ khâu tổ chức đăng ký tham gia đến theo dõi quá trình thực hiện, hỗ trợ tra cứu thông tin và báo cáo chi tiết tình hình công tác thi đua khen thưởng của toàn đơn vị, trợ giúp công tác quản lý xét tặng danh hiệu thi đua… được lưu trữ, quản lý trên phần mềm.

Quản lý tài sản nội ngành: Từ năm 2017, phần mềm quản lý tài sản nội ngành (QLTS) được Cục Tin học và Thống kê tài chính triển khai thống nhất cho toàn ngành Tài chính. Phần mềm quản lý tài sản được tích hợp với phần mềm đăng ký tài sản để báo cáo các loại tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý cho Bộ Tài chính (Cục QLCS) để tổng hợp báo cáo Quốc hội. Phần mềm quản lý tài sản được triển khai giúp Bộ Tài chính thực hiện tổng hợp báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nội ngành Tài chính một cách nhanh chóng, chính xác.

Trong những năm vừa qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với các đơn vị liên quan bảo đảm các điều kiện kỹ thuật để có thể tham gia các cuộc họp trên môi trường mạng do Thủ tướng Chính phủ tổ chức khi được yêu cầu; bảo đảm các điều kiện về kỹ thuật cho 100% các cuộc họp sơ kết, tổng kết của Bộ trưởng Bộ Tài chính với thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, các sở tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện trên môi trường mạng.

Kim Liên