“Băn khoăn” ưu đãi thuế cho sản xuất phần mềm

Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp (DN) sản xuất phần mềm dễ dàng tiếp cận các chính sách ưu đãi về thuế và các chính sách ưu đãi khác, Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT&TT) đã soạn thảo Thông tư hướng dẫn xác nhận hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm và sản phẩm nội dung số. Tuy nhiên, nội dung  dự thảo Thông tư vẫn còn một vài điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định ưu đãi thuế.
Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Doanh nghiệp tự xác định hoạt động sản xuất phần mềm
 
Hiện nay, hoạt động sản xuất phần mềm vẫn chưa được hiểu rõ ràng nên việc dự thảo Thông tư đưa ra các khái niệm cụ thể sẽ giúp các doanh nghiệp (DN) tự xác định vai trò của mình dễ dàng hơn. Theo dự thảo, quy trình hoạt động sản xuất phần mềm bao sẽ gồm 7 công đoạn: Xác định yêu cầu; Phân tích và thiết kế; Lập trình viết mã lệnh; Kiểm tra và kiểm thử phần mềm; Đóng gói và hoàn thiện hồ sơ phần mềm; Hướng dẫn sử dụng, chuyển giao công nghệ, bảo hành bảo trì; Phát hành, phân phối sản phẩm. Đây được coi là cơ sở để xác định DN có “đủ điều kiện” xếp vào nhóm sản xuất phần mềm hay không.
Một DN được xác định hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm khi có giấy chứng nhận đăng ký DN hoặc giấy chứng nhận đầu tư, trong đó nêu rõ lĩnh vực liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm như: sản xuất phần mềm, lập trình máy ví tính... hoặc sản phẩm phần mềm do DN tham gia sản xuất thuộc danh mục sản phẩm phần mềm được ban hành theo Thông tư số 09/2013, ban hành ngày 8/4/2013 của Bộ trưởng Bộ TT&TT.

Nếu hoạt động của DN chỉ thuộc một trong các công đoạn từ công đoạn 2 đến công đoạn 4 và nằm trong danh mục sản phẩm phần mềm; các DN có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư liên quan đến hoạt động sản xuất phần mềm và có thêm các công đoạn 1 hoặc công đoạn 5 nêu trên cũng được xác định là hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm.

Bên cạnh việc xác nhận DN sản xuất phần mềm, dự thảo cũng đưa ra quy trình sản xuất sản phẩm nội dung số bao gồm 8 công đoạn gồm: Khảo sát xác định yêu cầu; Phân tích, thiết kế sản phẩm; Thu thập thông tin, dữ liệu, nội dung; Lập trình, đồ họa, âm thanh, xây dựng sản phẩm; Kiểm tra, thử nghiệm sản phẩm; Đóng gói và hoàn thiện.; Hướng dẫn sử dụng, chuyển giao công nghệ, bảo trì bảo hành; Phát hành, phân phối sản phẩm nội dung thông tin số. Để được xác nhận tham gia hoạt động sản xuất nội dung số, DN phải có giấy chứng nhận đăng ký ghi rõ hoạt động liên quan đến sản xuất sản phẩm nội dung số và tham gia vào một số bước như quy định trong quy trình nêu trên.

Căn cứ vào các quy định trong dự thảo Thông tư, DN sẽ tự xác định xem đơn vị mình có đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phần mềm hoặc nội dung số hay không và gửi nộp hồ sơ xin xác nhận. Sở Thông tin & Truyền thông sẽ chịu trách nhiệm xem xét, xác nhận đối với DN có 100% vốn trong nước đóng trên địa bàn. Các DN có vốn đầu tư nước ngoài sẽ do Vụ CNTT (Bộ TT&TT) thông qua. Các DN phải có trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động sản xuất phần mềm và nội dung số cho Sở Thông tin & Truyền thông và gửi bản sao về Bộ TT&TT trước ngày 31/1 hàng năm.
 
Khó xác định ưu đãi thuế
 
Dự thảo Thông tư ra đời ngoài mục đích hướng dẫn về quy trình sản xuất sản phẩm phần mềm, còn tạo điều kiện cho DN dễ dàng làm việc với Tổng cục Thuế về các chính sách ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, những quy định tại dự thảo vẫn còn một số chỗ chưa rõ ràng khiến cơ quan thuế gặp khó khăn trong việc xác định ưu đãi cho DN.
 
Liên quan đến chính sách ưu đãi thuế cho các DN thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo Thông tư, mới đây Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) cũng đã có văn bản góp ý về vấn đề này. Cụ thể, do nội dung Thông tư hướng dẫn về quy trình sản xuất, điều kiện, thủ tục và thẩm quyền xác nhận sản phẩm phần mềm và sản phẩm nội dung số nên phần căn cứ trính dẫn văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tài chính đề nghị bỏ các căn cứ là Luật Thuế TNDN, Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN.
 
Theo Bộ Tài chính, pháp luật thuế TNDN hiện hành chỉ quy định ưu đãi thuế đối với thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư sản xuất sản phẩm phần mềm, không có quy định ưu đãi đối với DN sản xuất sản phẩm nội dung số. Vì vậy, Bộ Tài chính cho rằng dự thảo cần làm rõ sự cần thiết về nội dung hướng dẫn xác nhận hoạt động sản xuất nội dung số, các trường hợp sản xuất sản phẩm nội dung số cũng được coi là sản xuất sản phẩm phần mềm để cơ quan thuế có cơ sở áp dụng ưu đãi phù hợp. Bộ Tài chính cũng đề nghị bỏ cụm từ “để áp dụng chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi đầu tư và các chính sách ưu đãi khác” tại Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh.

Bộ Tài chính cho biết, quy định ưu đãi thuế TNDN theo Luật Thuế TNDN hiện hành đã áp dụng đối với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư sản xuất sản phẩm phần mềm. Cụ thể, thuế suất 10% trong 15 năm tính từ năm đầu tiên dự án đầu tư mới của doanh nghiệp có doanh thu; miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo tính từ năm đầu tiên dự án đầu tư của DN có thu nhập chịu thuế, trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong 3 năm đầu thì thời gian miễn, giảm thuế được tính từ năm thứ 4.

Thực tế DN có thể có rất nhiều sản phẩm phần mềm và hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm diễn ra trong nhiều năm, có sản phẩm phần mềm đáp ứng đúng quy trình, có sản phẩm không đáp ứng đúng quy trình, có sản phẩm năm nay đáp ứng qy trình nhưng năm sau lại không đáp ứng quy trình… Vì vậy, nếu dự thảo Thông tư hướng dẫn DN xác nhận quy trình đối với từng sản phẩm phần mềm và gửi báo cáo về Bộ TT&TT hàng năm để lấy ý kiến, thì rất khó để xác định ưu đãi thuế cho DN. Ngoài ra, việc ban hành các quy định này làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, biến loại hình sản xuất từ không có điều kiện thành loại hình sản xuất có điều kiện.

Do đó, Bộ Tài chính cho rằng nội dung dự thảo Thông tư nên tập trung hướng dẫn về quy trình sản xuất sản phẩm phần mềm cụ thể để DN thực hiện. Đồng thời, dự thảo Thông tư cũng cần bổ sung trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền đối với các DN sản xuất sản phẩm phần mềm, bỏ nội dung quy định về điều kiện, thủ tục và thẩm quyền xác nhận sản phẩm phần mềm.
 
(Thanh Huyền)