“Công nghệ thông tin ngành Tài chính có bước đi bài bản”

Những định hướng đúng đắn của Bộ Tài chính ngay từ thời kỳ đầu khi thành lập Tổ nghiên cứu đề án tổ chức hệ thống tin học ngành Tài chính đã trở thành tiền đề, mang đến những thành quả cho ngày hôm nay. Đây là đánh giá của ông Phạm Văn Thuận, nguyên Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê Tài chính với phóng viên Tạp chí Tài chính điện tử khi nhìn lại chặng đường 25 năm Tin học ngành Tài chính.

Ông Phạm Văn Thuận, nguyên Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê Tài chính, Bộ Tài chính. Ông Phạm Văn Thuận, nguyên Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê Tài chính, Bộ Tài chính.

Ông đánh giá như thế nào về quyết định thành lập Tổ nghiên cứu đề án tổ chức hệ thống tin học ngành Tài chính vào thời điểm năm 1989?

Tôi cho rằng đây là quyết định rất đúng và kịp thời vì lúc đó nước ta mới chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, các chính sách đều phải thay đổi nên vấn đề quản lý tài chính cũng phức tạp lên.

Tất cả đòi hỏi phải đưa ra một hệ thống quản lý mới để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính. Nhìn thấy bối cảnh cũng như yêu cầu như vậy nên Bộ Tài chính đã xây dựng Đề án tổ chức hệ thống tin học ngành Tài chính rất bài bản và có cái nhìn thấu đáo.

Vì vậy, khi Tổ tin học ra đời đáp ứng yêu cầu và được đón nhận tích cực và lãnh đạo Bộ Tài chính rất ủng hộ.

Bắt đầu thành lập và triển khai đề án về CNTT trong khi lĩnh vực này còn xa lại với đại đa số người dân, cũng như các cơ quan nhà nước đã đặt ra thách thức gì cho Tổ tin học, thưa ông?

Việc triển khai ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính lúc đó còn rất mới mẻ, ngay cả lãnh đạo các bộ, ngành nhiều khi cũng chưa hiểu gì về CNTT nên việc triển khai không tránh khỏi khó khăn.

Nhiều người chưa hiểu tại sao phải cần đầu tư cái máy tính đắt như vậy nên việc xét duyệt triển khai không dễ. Có người cho là đưa máy tính vào thì chủ yếu phục vụ cán bộ chơi game. Lúc đó máy tính chủ yếu để soạn thảo văn bản và chương trình đơn lẻ chứ chưa có nhiều ứng dụng như bây giờ nên họ không thấy được tầm quan trọng của máy tính.

Dường như vào thời điểm đó, CNTT đứng một bên và tất cả các đơn vị khác đứng một bên, nên triển khai rất vất vả, chúng tôi phải đi thyết phục từng nơi.

Ngoài khó khăn về nhận thức, một khó khăn khác là hệ thống nghiệp vụ chưa được quy chuẩn, mã hóa như bây giờ. Vấn đề về nhận thức hay nhân lực chưa hiểu về CNTT còn có thể đào tạo được ngay, nhưng những vấn đề về chính sách, chuẩn hóa nghiệp vụ thì thực sự phức tạp.

Ngoài ra, những đơn vị viết các ứng dụng khi đó cũng chưa có nhiều và khả năng viết phần mềm cũng rất hạn chế.

Những khó khăn đó đã được khắc phục như thế nào và mục tiêu mà đề án đặt ra là gì, thưa ông?

Để khắc phục khó khăn, Tổ tin học cùng với các đơn vị bắt tay vào xây dựng, chuẩn hóa các nghiệp vụ, đồng thời yêu cầu thực hiện những chính sách ổn định, chọn những vấn đề nghiệp vụ được chuẩn hóa có thể triển khai lâu dài để áp dụng CNTT vào những chương trình đó là chính.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng tranh thủ những dự án viện trợ của tổ chức quốc tế để xây dựng các hệ thống nghiệp vụ cho chuẩn, tranh thủ tư vấn giải pháp CNTT và đào tạo cho các cán bộ để khắc phục dần.

Hàng năm, chúng ta tổ chức các hội nghị đối tác nhằm đưa ra các chương trình mà Bộ Tài chính sẽ triển khai để cho các đơn vị muốn tham gia biết thông tin và chuẩn bị các chương trình đáp ứng yêu cầu của Bộ Tài chính.

Nhờ vậy, khi triển khai nhiều đối tác đưa ra các chương trình chất lượng rất tốt và phù hợp. Mục tiêu về lâu dài đặt ra lúc đó là muốn xây dựng hệ thống quản lý tài chính hiệu quả tốt nhất, còn bước đầu tiên là tạo môi trường tin học, triển khai các ứng dụng đơn lẻ, tổ chức đào tạo cho cán bộ nhân viên, trang bị mạng LAN, chương trình nhỏ lẻ để nâng cao trình độ rồi đưa dần ứng dụng vào.

Được giao phụ trách Tổ tin học đầu tiên của Bộ Tài chính trong giai đoạn còn nhiều khó khăn có khiến các ông cùng các đồng nghiệp lo lắng?

Lúc bắt đầu triển khai chúng tôi toàn tâm toàn ý cho công việc, cũng không lo lắng lắm, nhưng cũng vì nhiệt huyết muốn tìm được biện pháp để làm sao nâng cao hiệu quả hê thống quản lý của ngành Tài chính, nên nhiều khi cứ muốn là phải có ngay lập tức một hệ thống quản lý chặt chẽ, có ngay đường truyền và mọi thứ đơn giản như việc cứ bật máy tính lên là có hết.

Khi đó hiểu biết về CNTT còn thấp, nên mơ tưởng đơn giản như vậy chứ không nghĩ CNTT phức tạp như bây giờ. Lúc đó tất cả cơ quan nhà nước làm việc hoàn toàn thủ công, có cái máy đánh chữ đã là tốt rồi. Máy vi tính là thứ gì đó thực sự mới mẻ nên cảm thấy có chút xa lạ.

Khi thành lập, Tổ tin học được trang bị 1 cái phòng và máy tính ở trên tầng 3 tòa nhà Bộ Tài chính ở số 8 Phan Huy Chú, cái máy tính được coi là báu vật, không phải ai cũng được động vào, có quy trình bảo dưỡng bật máy lau chùi vệ sinh.

Trong Bộ Tài chính khi đó chỉ có duy nhất có cái phòng này được trang bị điều hòa nhiệt độ, sàn nhà được trải thảm sang trọng, cảm giác CNTT thật xa xỉ, nên anh em ai cũng rất phấn khởi.

Khi chúng tôi cùng với đoàn tin học của KBNN tổ chức hội nghị tại miền Nam, tất cả các đơn vị khoa học có dính dáng về CNTT lúc đó nghe nói Bộ Tài chính triển khai dự án CNTT trị giá tới 30 tỷ đồng vào năm 1989 đều đến dự rất đông để lắng nghe về dự án được coi là “xưa nay chưa từng” có này.

Khi được trang bị phòng máy như vậy, cũng có rất nhiều người tìm đến tham quan, muốn sử dụng nhờ vì nó lạ lẫm quá và hiện đại quá. Tổ tin học lúc đó có khoảng 5-6 người, công việc mới nên anh em ngồi cài những chương trình soạn thảo văn bản, nhập text và còn nhờ 1 chị bên bưu điện để truyền telex vào miền Nam.

Lúc đó còn chưa hình dung CNTT sẽ như bây giờ nên cảm thấy phấn khởi khi trang bị được những chiếc máy tính như thế, nhưng khi triển khai mới thấy đầy rẫy những khó khăn.

Cơ sở của mình chưa có gì, hệ thống ứng dụng chưa làm được nhiều, mới chỉ có chương trình KTKB của Kho bạc Nhà nước do Viện tin học của Viện khoa học Việt Nam xây dựng, sau đó đem đi triển khai, phổ biến cho các nơi.

Vượt qua chặng đường dài, sau 25 năm nhìn lại, đâu là những kết quả quan trọng nhất mà Tổ tin học làm được, thưa ông?

Theo tôi cái quan trọng nhất là ngay từ đầu chúng ta đã có định hướng triển khai ứng dụng tin học trong ngành Tài chính một cách đúng đắn.

Bộ Tài chính có chủ trương xây dựng đề án ứng dụng CNTT để triển khai trong toàn ngành trong thời gian dài, chúng ta đã tiến hành đưa ra mục tiêu, mục đích yêu cầu để làm thế nào đó nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách tài chính một cách tốt nhất.

Chúng ta đưa ra bài toán như vậy và đề nghị các đơn vị triển khai ứng CNTT hàng đầu của Việt Nam khi đó tham gia xây dựng đề án cho Bộ Tài chính.

Sau đó chúng ta tổ chức hội nghị xem xét các đề án đó để lấy ra các phần tốt nhất của từng đề án và đưa vào dự án ứng dụng CNTT cho Bộ Tài chính được Chính phủ phê duyệt từ đó chúng ta triển khai.

Dự án gồm 3 nội dung chính gồm: tiến hành cải cách chính sách thể chế chuẩn hóa nghiệp vụ; tổ chức đào tạo nguồn nhân lực và lựa chọn các giải pháp công nghệ tiên tiên đưa vào ứng dụng ngành Tài chính.

Để giải quyết các nội dung này, đầu tiên chúng ta xây dựng một đề án tổng thế sau đó tạo ra môi trường tin học bằng cách đào tạo cả cán bộ quản lý về CNTT và đào tạo cho cán bộ ngành Tài chính để họ sử dụng được CNTT.

Về mặt chính sách, chúng ta tiến hành chuẩn hóa các nghiệp vụ, xây dựng các công tác kế toán. Chúng ta mua sắm các máy vi tính, xây dựng các mạng đơn lẻ để đưa các ứng dụng cho các đơn vị tài chính triển khai.

Song song với đó là xây dựng chính sách về triển khai ứng dụng CNTT như xây dựng các quy chế về đấu thầu, mua sắm thiết bị, quy chế về xem xét đánh giá phần mềm các dự án…

Một trong những kết quả quan trọng khác là chúng ta đã bước đầu xây dựng được văn hóa triển khai CNTT của ngành Tài chính như: xây dựng ngày sinh hoạt chung cho cán bộ nhân viên; coi trọng công tác đào tạo, cập nhật kiến thức, tạo ra không khí làm việc thân thiện, say mê và các nhóm làm việc hợp tác chặt chẽ với nhau, hợp tác với các đơn vị CNTT để họ hỗ trợ về kiến thức về các giải pháp công nghệ.

Chúng ta cũng tận dụng sự ủng hộ, tài trợ của các hãng máy tính, tổ chức quốc tế để về kỹ thuật và kinh nghiệm triển khai CNTT của các nước tiên tiến. Bên cạnh đó, chúng ta cũng tận dụng các khóa đào tạo của các hãng máy tính cung cấp để đưa cán bộ đi hộ thảo, tham dự các khóa đào tạo, nâng cao kiến thức CNTT để khi trở về vận dụng vào công tác quản lý của ngành.

Hàng năm chúng ta tổ chức hội nghị với các đối tác được các đơn vị triển khai rất hoan nghênh để chúng ta nói về những mặt được và chưa được trong hiệu quả triển khai. Hai bên tuy rằng mục tiêu khác nhau, nhưng cùng hướng đến làm sao nâng cao hiệu quả công việc, đó là cái mà tôi nghĩ là chúng ta đã xây dựng được văn hóa CNTT.

Như vậy, những mục tiêu định hướng đặt ra cho tin học ngành Tài chính khi đó đến nay đã đạt được, thưa ông?

Tôi cho rằng những yêu cầu đặt ra để xây dựng được hệ thống quản lý tài chính ngày càng hiệu quả đã đạt được một bước, tuy còn phải cố gắng hơn nữa và tiến hành hoàn thiện hơn nữa.

Tôi rất mừng vì chúng ta có được đội ngũ triển khai ứng dụng CNTT đồng bộtrong toàn hệ thống từ cơ sở đến trung ương, đó là thành quả rất rõ mà chúng ta đã làm được, đây cũng là nền tảng để chúng ta cất cánh đi lên.

25 năm đối với một đời người là rất lâu, nhưng đối với một hệ thống quản lý của nhà nước thì chưa phải là dài vì có những giải pháp hàng trăm năm mới có thể tiến hành được.

Tất nhiên hiện nay khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, 25 năm chúng ta đạt được dấu mốc với nền tảng hạ tầng như vậy là rất tốt. Từ chỗ trước đây người ta chưa biết CNTT là gì, còn hiện nay Chính phủ đã coi CNTT là mục tiêu, đó quả là một bước tiến rất dài mà trong đó ngành Tài chính là một trong những cơ quan dẫn đầu trong việc đưa CNTT vào cơ quan nhà nước.

Theo ông, tin học ngành Tài chính cần phải làm gì để đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong giai đoạn khó khăn trước mắt, nhất là khi yêu cầu về ứng dụng CNTT trong việc cải cách thủ tục hành chính đang được đặt lên hàng đầu?

Tôi cho rằng, điều chúng ta nên làm là phải tăng cường thể chế, chuẩn hóa nghiệp vụ, cải cách thủ tục hành chính tốt hơn nữa để có thể đưa CNTT vào áp dụng. Cần củng cố nhân lực, sắp xếp lại tổ chức, tinh giản bộ máy sao cho hiệu quả, chọn được người có khả năng đáp ứng công việc.

Ngoài ra, chúng ta cần áp dụng các giải pháp CNTT tiên tiến, tận dụng xu hướng mới để nâng cao hiệu quả công việc, góp phần giải quyết các công việc của ngành như chống thất thu, nâng cao hiệu quản quản lý ngân sách… Ngược lại, CNTT cũng đòi hỏi phải củng cố tổ chức để phù hợp, phải tác động đến chính sách làm sao để giảm bớt các thủ tục rườm rà.

Về giải pháp CNTT tôi cho rằng không có gì quá khó, có kinh phí chúng ta có thể giải quyết được. Nhưng cái quan trọng nhất mà chúng ta cần chú ý tới là giáo dục ý thức, chuẩn hóa tư cách của cán bộ để sử dụng CNTT.

Tại các nước phát triển, họ triển khai ứng dụng CNTT từ những cái nhỏ nhất, chẳng hạn như thu phí ô tô tự động, nhưng ở Việt Nam tại sao chỉ mới đưa vào hệ thống đếm tự động được 1 tháng là hỏng? Tất cả là vì con người phá hỏng chứ không phải tại cái máy nó hỏng.

Vì vậy, cái chính là phải có kỷ luật, có đào tạo, giáo dục ý thức và các biện pháp để quản lý, ngăn chặn những cái xấu. Để làm được như vậy thì thu nhập của người làm nghiệp vụ liên quan phải đủ nuôi sống gia đình họ, kèm theo đó phải có biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ thì việc triển khai mới hiệu quả. Ngoài ra cần có những chế tài nghiêm khắc để chống thất thoát tiền của Nhà nước.

Đối với giải pháp CNTT, theo tôi cần phải có hệ thống công nghệ hiện đại, luôn có hệ thống dự phòng phải ngang bằng với hệ thống đang triển khai để đảm bảo an toàn. Khi triển khai hệ thống nào phải tính toán đủ khả năng kinh phí để duy trì hệ thống lâu dài, an toàn tuyệt đối. Bên cạnh đó, chúng ta phải tính toán tỉ mỉ đến nguồn thu phí dịch vụ để đáp ứng việc duy trì và trang bị thường xuyên hệ thống…

Ông đánh giá như thế nào về vai trò của lãnh đạo CNTT (CIO) trong thời kỳ mới?

CIO đóng vai trò định hướng quan trọng, vì vậy cần phải luôn trau dồi, trước tiên phải hiểu được công việc nghiệp vụ của ngành để triển khai, hiểu tất cả các bộ phận của ngành Tài chính từ dưới lên trên từ trên xuống dưới, ngang dọc và các mối quan hệ nghiệp vụ để xem nó cần gì.

Thứ 2, CIO phải tinh thông về CNTT, dù không biết tỉ mỉ như người viết chương trình phần mềm, nhưng phải học tập để biết được về nó.

Ngoài ra, CIO phải có tư chất lãnh đạo, tập hợp được tất cả các nhân tài, đánh giá được khả năng của từng người, tận dụng khả năng của họ và tạo điều kiện cho họ làm việc.

Đồng thời, CIO phải có nhãn quan mở rộng ra thế giới, luôn cập nhật thông tin về xu hướng phát triển CNTT trên thế giới. Dựa vào đó CIO lựa chọn nhân sự phù hợp, có quan hệ tốt với các đơn vị để cùng hỗ trợ nhau triển khai.

Tôi hy vọng rằng, trong thời gian tới tin học ngành Tài chính sẽ tiếp tục triển khai được những hệ thống đơn giản thuận tiện, tiết kiệm nhất cho ngân sách nhà nước mà giúp quản lý chặt chẽ nhất nguồn thu và chi tiêu có hiệu quả, nhằm vận hành tốt, nâng cao hiệu suất lao động và minh bạch các hoạt động quản lý tài chính, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước.

Xin cảm ơn ông!

(Thanh Huyền - thực hiện)