Cuộc chạy đua 4G: Cơ hội hay thách thức?

Năm 2015 được coi thời điểm vàng để Việt Nam triển khai mạng 4G sử dụng công nghệ LTE (gọi tắt là 4G) khi những tờ giấy phép 4G đầu tiên sẽ được Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT&TT) phê duyệt kể từ năm 2016. Với ưu thế vượt bậc về khả năng cung cấp các dịch vụ truy nhập tốc độ cao, 4G sẽ là xu hướng phát triển chủ đạo của viễn thông Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, triển khai như thế nào cho hiệu quả và làm thế nào để hạn chế được tác động tiêu cực từ sự bùng nổ các dịch vụ tiện ích đi kèm… đang là những thách thức hiện hữu đặt ra cho các doanh nghiệp viễn thông và nhà quản lý.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Tương lai cho thiết bị không dây  

Đã 5 năm kể từ khi dịch vụ công nghệ 3G chính thức được cung cấp cho người dùng Việt Nam, cho đến thời điểm này, mạng lưới 3G đã phát triển mạnh cả về độ phủ sóng, thị trường cùng số lượng khách hàng. Trên nền tảng 3G, người sử dụng có thể đọc tin tức, lướt web, xem phim, tải nhạc, chơi game hay tải các phần mềm khác. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ nhiều khi vẫn chưa thỏa mãn người dùng do tốc độ đường truyền dữ liệu còn hạn chế, nhất là những dịch vụ như xem phim trực tuyến, nghe nhạc online chất lượng cao, chơi game, các dịch vụ định vị… Để giải quyết những bất cập này và mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng, mạng di động thế hệ thứ 4 được xem là xu hướng tất yếu.

Công nghệ 4G được coi là chuẩn tương lai của các thiết bị không dây, cho phép người sử dụng có thể truyền tải dữ liệu với tốc độ cao, có thể gấp hơn 20 lần tốc độ băng thông cao nhất của dịch vụ 3G. Nó mang đến tính năng vượt trội như thoại dựa trên nền IP, truyền số liệu và đa phương tiện với tốc độ cao hơn rất nhiều so với các mạng di động hiện nay. Ở tốc độ truyền cao nhất, người dùng có thể tải một bộ phim chỉ trong 5-6 giây và gửi 100 bài hát chỉ mất 2,4 giây.

Hiện tại, trên thế giới đã có hơn 300 nhà mạng triển khai công nghệ này. Theo nghiên cứu Ericsson Mobility Report, năm 2014, thế giới đã có khoảng 500 triệu thuê bao 4G và tiếp tục tăng lên mạnh mẽ. Dự báo tới năm 2020, con số này sẽ tăng lên 3,5 tỷ thuê bao, tương đương 70% dân số toàn cầu tại thời điểm đó. Chỉnh tính riêng quý 4/2014, lần đầu tiên thế giới chứng kiến mức tăng kỷ lục trong một quý lên tới 110 triệu thuê bao 4G mới. Dự báo, trong khoảng thời gian 2015-2020, châu Á – Thái Bình Dương sẽ là khu vực đứng đầu về sự tăng mới thuê bao 4G với khoảng 1,8 tỷ thuê bao, chiếm 60% sự tăng trưởng về số lượng thuê bao LTE toàn cầu. Cũng theo nghiên cứu này, tới năm 2020, số lượng thuê bao băng rộng di động sẽ chiếm 90% tổng số thuê bao di động.

Một trong những lý do khiến 4G có tốc độ tăng trưởng như “vũ bão” là do điện thoại thông minh đang ngày càng chiếm ưu thế. Cũng theo báo cáo của Ericsson, phần lớn các mẫu điện thoại thông minh cao cấp hiện nay đều tích hợp công nghệ 4G. Năm 2014, khoảng 1,3 tỷ smartphone được bán ra trên toàn cầu. Số lượng smartphone phát triển rất nhanh khi chỉ trong vòng 2 năm trở lại đây, thế giới có thêm 1 tỷ thuê bao mới.

Đến năm 2020, smartphone sẽ tạo ra lượng sử dụng di động gấp 5 lần thời điểm hiện tại và chiếm 70% lưu lượng dữ liệu di động. Tại các nước châu Á – Thái Bình Dương, lưu lượng dữ liệu trung bình hàng tháng mà các thuê bao smartphone sử dụng năm 2014 là 0,7GB và dự kiến tới năm 2020 là 3,2GB.

Ông Jan Wassenius, Tổng Giám đốc Ericson Việt Nam cho biết,  4G là một trong những bước của tiến trình hiện đại hóa hệ thống mạng tổng thể nhằm đáp ứng sự tăng trưởng dữ liệu. Các nhà mạng cần tập trung vào vùng phủ các ứng dụng để đảm bảo cung cấp sự trải nghiệm tốt nhất cho từng thuê bao. Hiệu quả vận hành mạng là cơ sở cho những kết quả tài chính và làm yếu tố quan trọng giữ chân khách hàng trung thành. Sự tăng trưởng dữ liệu, môi trường vô tuyến ngày càng phức hợp cho thấy tầm quan trọng về năng lực điều hành và phối hợp của mạng viễn thông, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại sẵn sàng cho 4G và 5G.

Tại Việt Nam, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ tháng 7/2012 và đã quy hoạch băng tần cho 4G từ các giải 2.300 MHz – 2.600 MHz. Trong năm 2014, Bộ TT&TT cũng đã cấp giấy phép thử nghiệm 4G cho 5 nhà mạng gồm: FPT Telecom, VNPT, Viettel, CMC và VTC với thời gian 1 năm. Trong đó, Viettel và VNPT là những nhà mạng có nhiều năm kinh nghiệm phát triển mạng di động và đang sở hữu cơ sở hạ tầng 3G khá tốt.

Đầu tháng 3 vừa qua, Bộ trưởng Bộ TT&TT đã ký ban hành thông tư cho phép triển khai 4G ở cả băng tần 1800 MHz mà hiện các doanh nghiệp đang dùng cho 2G. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có doanh nghiệp nào trong số này công bố thời điểm cụ thể sẽ áp dụng công nghệ này trên thực tế.

Phát biểu tại Hội thảo quốc tế 4G LTE 2015 vừa diễn ra tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng cho biết: “Ngay từ khi công nghệ 4G mới ra đời và bắt đầu phát triển từ những năm 2010-2011, Bộ TT&TT đã có các nghiên cứu, chuẩn bị để xây dựng kế hoạch triển khai. Tuy nhiên, bài học lớn nhất mà chúng ta rút ra được sau khi triển khai 3G chính là lựa chọn thời điểm phù hợp. Trên thực tế, dù công nghệ 3G xuất hiện từ đầu những năm 2000, nhưng mãi đến 2009 tức là 9 năm sau đó, Việt Nam mới tiến hành cấp phép 3G cho các doanh nghiệp di động. Chúng ta đã bắt tay vào nghiên cứu và triển khai thử nghiệm 4G ở quy mô nhỏ. Theo đánh giá bước đầu của các doanh nghiệp thì cơ bản về mặt công nghệ đã đáp ứng được yêu cầu. Song từ góc độ thị trường, kinh tế thì còn phải tính đến nhiều yếu tố khác nữa”.

Việc triển khai 4G tại Việt Nam là xu hướng không tránh khỏi, bởi lợi ích mà nó mang lại là tăng chất lượng đối với các dịch vụ lướt web, dịch vụ trực tuyến nhờ vào độ trễ thấp và hầu như không bị trễ. Vùng phủ sóng cho ứng dụng tốt hơn đảm bảo cho các ứng dụng đa phương tiện hoạt động tốt khi tải về hoặc đưa lên, nâng cao chất lượng thoại và giảm thời gian thiết lập cuộc gọi. 4G tương thích với các hạ tầng viễn thông hiện tại và toàn bộ hệ sinh thái.

Bên cạnh đó, công nghệ 4G cũng có khả năng quản lý các thiết bị di động có tốc độ di chuyển nhanh, cũng như những luồng dữ liệu đa điểm, tại nhiều vị trí khác nhau. Ngoài ra, mạng 4G cho phép các game thủ chơi game multiplayer trên điện thoại hay trên laptop và máy chơi game cầm tay với các sản phẩm game hình ảnh đẹp hơn cũng như tải video dung lượng lớn và hầu hết các file ảnh trên mạng 4G. 4G cũng tạo cơ hội cho các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành như đào tạo trực tuyến, khám bệnh trực tuyến… trở nên phổ biến hơn. Nó đặc biệt hữu ích với vùng sâu, vùng xa, miến núi, hải đảo khi 4G cho phép dễ dàng chuyển tải các tập tin dung lượng lớn, cung cấp video tương tác để hỗ trợ hoạt động chăm sóc sức khỏe từ xa. Hơn nữa, nếu Việt Nam muốn phát triển thương mại điện tử và Chính phủ điện tử trên nền tảng di động thì bắt buộc phải cần tới tốc độ và sự bảo mật của 4G.

Từ bài học kinh nghiệm khi triển khai 3G, Bộ TT&TT đã nghiên cứu xây dựng lộ trình, chính sách phát triển 4G như một bước đi tất yếu. Thứ trưởng Lê Nam Thắng khẳng định: “Lộ trình này phải căn cứ vào các nguyên tắc trong Quyết định của Thủ tướng về Quy hoạch thị trường viễn thông. Việt Nam là một nước đang phát triển, không thể sản xuất ra công nghệ nguồn thì phải xem xét, chờ đợi công nghệ đó chín muồi. Số lượng người dùng công nghệ đó trên thế giới phải tương đối phổ biến thì khả năng áp dụng thành công vào Việt nam mới cao. Trước đây, Việt Nam từng triển khai CDMA, một công nghệ cũng rất tốt nhưng tính phổ biến bị hạn chế nên khi triển khai không được thành công như mong đợi. Vì vậy, trước mắt trong năm 2015, các nhà mạng sẽ tiến hành thử nghiệm băng tần 1800 MHz và đến đầu năm 2016 thì cơ quan quản lý sẽ tiến hành cấp phép chính thức 4G dưới hình thức đấu thầu”.

Cần một lộ trình phù hợp

Theo Bộ TT&TT, về băng tần, Việt Nam đã dành hơn 200 MHz dùng cho 4G và đã tương đối sẵn sàng. Nhưng để triển khai hiệu quả 4G thì công nghệ 4G phải chín muồi, giá cả của các thiết bị cũng phải giảm vì nếu quá đắt thì doanh nghiệp “ngại” đầu tư, người dùng thì không muốn sử dụng vì quá tốn kém. Hiện giá cả thiết bị đầu cuối 4G vẫn còn đắt so với mặt bằng thu nhập của người dân Việt Nam nên sẽ là rào cản trong việc thu hút số đông người dùng. Đây là bài toán của doanh nghiệp khi đầu tư vào công nghệ 4G phải tính. Nếu chỉ dùng vào việc lướt web, gửi email thì không cần đến 4G bởi lẽ 3G đã làm tốt nhiệm vụ này. Bởi thế, nếu muốn 4G phát triển tốt, ngành công nghiệp nội dung cũng phải phát triển đồng bộ theo và chi phí dịch vụ phải phù hợp với thu nhập của người dân Việt Nam.

Là một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới về công nghệ 4G/LTE với 320 hợp đồng xây dựng mạng LTE thương mại trên toàn thế giới, ông Qiu Heng, Phó Chủ tịch các mạng TDD của Huawei cho rằng triển khai 4G sẽ có lợi cho nền kinh tế của các quốc gia. Nếu mật độ băng rộng tăng 10% thì GDP có thể tăng 1%, và như vậy 4G sẽ có lợi cho nền kịnh tế, cho nhà khai thác và có lợi cho người sử dụng. Sự khác biệt lớn nhất giữa 3G và 4G là chi phí trên một bit thông tin. Nhu cầu dùng dữ liệu ngày càng tăng lên, nhưng người dùng lại không muốn trả tiền nhiều hơn. Như vậy, nhà mạng phải cung cấp tốc độ cao hơn với cùng mức chi phí và 4G là giải pháp mà chi phí phí trên mỗi bit rẻ hơn hẳn. Nếu nhìn từ quan điểm của nhà khai thác thì họ nên dùng 4G để cung cấp dữ liệu, nhưng với người dùng sẽ phải có thiết bị thông minh hỗ trợ 4G. Hiện nay điện thoại hỗ trợ 4G vẫn đắt hơn một chút so với loại không hỗ trợ công nghệ này. Như vậy, nhà khai thác thì muốn triển khai 4G sớm, nhưng nghịch lý là người tiêu dùng thì lại muốn chờ lúc thiết bị đầu cuối rẻ hơn. Kinh nghiệm triển khai 4G của Huawei cho thấy các mạng di động không nên đặt giá dịch vụ 4G quá cao so với 3G.

Về phía các nhà mạng trong nước, cả VNPT và Viettel đều cho biết đã sẵn sàng với 4G bởi các dịch vụ data sẽ mang lại nhiều lợi nhuận trong thời gian tới. Nhưng các nhà mạng đều cho rằng còn quá sớm để “khai tử” mạng 2G khi mạng 3G vẫn đang phát triển rất mạnh cả về độ phủ và số lượng khách hàng, công nghệ 4G cũng đang tiến tới rất gần.

Lý do chưa nhà mạng nào muốn loại bỏ 2G bởi lẽ nhu cầu sử dụng 2G vẫn còn rất cao tại Việt Nam nói riêng và các nước trong khu vực Đông Nam Á nói chung. Các nhà mạng sẽ phải phát triển song song các dịch vụ dành cho khách hàng của cả 2G, 3G và 4G trong thời kì quá độ. Có thể thấy, dù Việt Nam xác định sẽ triển khai 4G trong tương lai gần, nhưng cả nhà mạng và cơ quan quản lý đều còn nhiều vấn đề phải cân nhắc.

Theo ông Nguyễn Phong Nhã, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ TT&TT, Việt Nam hiện phải đối mặt với một số thách thức khi triển khai  mạng 4G. Thách thức đầu tiên đối với nhà mạng trước yêu cầu nâng cấp mạng lưới, thiết bị truyền dẫn cáp quang, xây dựng các tuyến cáp quang mới. Quá trình lắp đặt có thể gặp những khó khăn như một BTS điển hình dùng chung nhiều băng tần 1800, 800, 1900, 3100… có thể bị can nhiễu, ảnh hưởng chất lượng dữ liệu. Việc sử dụng các node B trên cùng một cột ăng ten có vấn đề về truyền dẫn… Ngoài ra, việc triển khai hệ thống mạng lõi mới của doanh nghiệp sẽ phải được tối ưu để sử dụng hiệu quả, tương thích với hệ thống cũ, cần thiết phải nghiên cứu để sử dụng lại, tránh đầu tư chồng chéo hoặc xảy ra vấn đề không kết nối được giữa các dịch vụ.

Về phía cơ quan quản lý, việc cấp phép thêm cho 4-5 nhà khai thác công nghệ mới thì sự tham gia thị trường như thế nào là phù hợp, cần có phương án, giải pháp phù hợp cho doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Năm 2015 sẽ là năm mà cơ quan quản lý phải tìm hiểu phương án cấp phép, chẳng hạn như có thể cấp một giấy phép hạ tầng cho doanh nghiệp có nhiều tài nguyên và công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đưa ra nhiều phương án kinh doanh trên các hạ tầng đã được cấp phép. Ngoài ra, lựa chọn băng tần nào cũng cần phải đảm bảo nguyên tắc được số đông các nước ủng hộ và đang là xu hướng chính trên thế giới nhằm đảm bảo quy mô thị trường lớn. Việc quy hoạch băng tần cũng cần đảm bảo đền bù giải phóng các băng tần hiện đang sử dụng sao cho khả thi, có băng thông đủ lớn để các nhà khai thác sử dụng hiệu quả...

Bên cạnh đó, nguy cơ mất an toàn thông tin cũng đặt ra nhiều thách thức. Công nghệ 4G sẽ mang đến các dịch vụ nội dung đa dạng cho người dùng từ phim ảnh HD, game online, truyền hình số cho đến các phần mềm kiểm soát tình trạng con người, phần mềm tương tác, phần mềm điều khiển các thiết bị kết nối internet.

Với 4G, một đứa trẻ lên 10 có thể sử dụng thành thạo chiếc smartphone để truy cập vào kho ứng dụng sẵn có tải các trò chơi online. Sự phát triển quá nhanh của công nghệ di động cũng đồng nghĩa với việc thật khó khăn và phức tạp để quản lý về mặt thông tin. Có quá nhiều trang web hay ứng dụng cung cấp các thông tin độc hại như nội dung khiêu dâm, lừa đảo, bạo lực… mà một đứa trẻ không nên xem. Nguy hiểm hơn, với tốc độ truy cập internet và các thiết bị đầu cuối di động hỗ trợ công nghệ 4G thì bất cứ ai cũng trở thành nguồn cung cấp và tiếp nhận thông tin. Điều đó khiến các hacker lợi dụng thiết bị cầm tay như một máy trạm để tấn công mạng và sử dụng thiết bị di động khác có lây nhiễm mã độc để lập thành một mạng thiết bị cầm tay ma. Lúc đó với tính năng di động của các thiết bị đầu cuối và đặc điểm của thiết bị cầm tay hầu như hoạt động 24/24h thì vấn đề an ninh mạng cần được đặt lên hàng đầu. Thực tế đã và đang có nhiều loại virus, trojan ra đời nhắm vào tính năng kết nối với internet của các dòng điện thoại thông minh. Tin tặc luôn tìm mọi cách để tấn công ăn cắp thông tin về ngân hàng, xem tin nhắn, danh bạ, ghi âm cuộc gọi, thậm chí định vị điện thoại tài khoản game… Tuy nhiên, do các cuộc tấn công vào điện thoại di động chưa nhiều như đối với máy tính nên không nhiều người sử dụng biết tới hoặc cảnh giác.

Có thể thấy, dù còn nhiều thách thức nhưng xu thế triển khai công nghệ 4G trên thế giới đang phát triển rất nhanh và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Để triển khai và tận dụng hiệu quả 4G, các chuyên gia cho rằng cần thiết phải có sự đồng thuận, phát triển nhịp nhàng của hệ sinh thái giữa chính phủ, các nhà mạng, năng lực cung cấp thiết bị đầu cuối và đặc biệt là phần nội dung, ứng dụng chạy trên đó. Với ưu điểm tốc độ truyền tải cao, công nghệ 4G được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho những ngành nghề mới tại Việt Nam.

(Thanh Huyền)