Đầu tư, quản lý vốn Nhà nước tại DN “sẽ vào khuôn khổ”

Hiện nay, việc quản lý nhà nước nói chung và quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp  Nhà nước (DNNN) nói riêng đang chịu sự điều chỉnh bởi nghị định, quyết định, mà chưa có một hệ thống cơ sở luật hoàn chỉnh. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông từng đưa ra con số so sánh: “Ngoài vốn chủ sở hữu của Nhà nước  1,1 triệu tỷ đồng trong DNNN, phần vốn vay của khu vực doanh nghiệp (DN)  này lên tới 1,3 triệu tỷ đồng. Trong khi Quốc hội, Chính phủ vất vả, loay hoay, quản chặt 173 nghìn tỷ đồng tiền vay đầu tư phát triển, thì 1,3 triệu tỷ đồng tiền DNNN đi vay lại được quản lý rất lỏng lẻo. Về nguyên tắc, khoản vay này nếu đổ bể, Nhà nước chính là người phải trả”.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Quản lý vốn vay của DNNN bị buông lỏng
 
Những số liệu mà Thứ trưởng Đặng Huy Đông nêu tại phiên thảo luận chiều 17/4/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật Đầu tư và quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại DN (đây là dự án luật được trình cho ý kiến lần đầu), gióng lên “hồi chuông báo động” về tình trạng thất thoát, lãng phí tài sản của Nhà nước, đòi hỏi sự quản lý chặt hơn nữa của cơ quan quản lý nhà nước đối với phần vốn của Nhà nước.
 
Bộ Tài chính được giao nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ Dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, nhằm khắc phục tồn tại, bất cập trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng vốn, tài sản của DNNN đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
 
Dự án Luật Đầu tư và quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại DN sẽ tập trung điều chỉnh việc đầu tư,  quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào DN tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (bao gồm cả việc DN này sử dụng vốn, tài sản của DN để đầu tư ra ngoài DN), quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại DN khác thông qua người đại diện.
 
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, quy định này sẽ thống nhất, không chồng chéo, đảm bảo tính đồng bộ với các quy định của pháp luật hiện hành và phù hợp với nguyên tắc chung về việc sử dụng vốn đầu tư của nhà nước. Bên cạnh đó, dự án Luật sẽ điều chỉnh các quy định liên quan đến đầu tư vốn Nhà nước vào DN như phạm vi đầu tư vốn Nhà nước vào DN và thẩm quyền quyết định đầu tư vốn Nhà nước vào DN. Còn về quản lý vốn Nhà nước tại DN, Luật sẽ điều chỉnh các quy định về vốn điều lệ của DN; quản lý, sử dụng tài sản cố định; quản lý nợ phải thu, nợ phải trả; đầu tư vốn ra ngoài DN; bảo toàn vốn của DN; vai trò điều tiết của Nhà nước đối với việc phân phối lợi nhuận của DN; quản lý vốn nhà nước đầu tư tại DN khác...
 
Đặc biệt, đối với hoạt động đầu tư vốn ra ngoài DN, để tránh việc đầu tư dàn trải, đồng thời để phù hợp với quyền chủ động sản xuất kinh doanh của DN, dự án Luật đã quy định nguyên tắc đầu tư vốn, tài sản, quyền sử dụng đất ra ngoài DN phải tuân thủ theo quy định của dự án Luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan; phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển của DN.
 
Ngoài ra, để tránh việc Nhà nước phải trả nợ thay DN, dự án Luật quy định nguyên tắc quản lý nợ phải thu, nợ phải trả theo hướng DN phải xây dựng và ban hành quy chế quản lý các khoản nợ phải thu, nợ phải trả; phân công và xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, thu hồi, thanh toán các khoản công nợ; mở sổ theo dõi theo từng đối tượng... xử lý bồi thường của cá nhân, tập thể có liên quan đối với nợ phải thu không có khả năng thu hồi, nợ phải thu khó đòi; thanh toán các khoản nợ phải trả theo đúng thời hạn đã cam kết; các khoản nợ phải trả mà không phải trả, không có đối tượng để trả thì hạch toán vào thu nhập của DN.
 
Bàn về sự cần thiết ban hành luật, Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng: Việc phân công, phân cấp quản lý vốn và tài sản tại các DN giữa các cơ quan quản lý Nhà nước còn chồng chéo, không rõ phạm vi; dẫn đến khó xác định trách nhiệm của người đứng đầu khi xảy ra sai phạm... Do đó, cần phải ban hành một dự án Luật về Đầu tư và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào DN nhằm khắc phục các hạn chế, tồn tại phát sinh trong thực tiễn đầu tư, quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN trong thời gian qua. Đồng thời, đáp ứng các yêu cầu quản lý của nhà nước đối với DNNN trong việc định hướng, tổ chức lại, nâng cao và phân định rõ vai trò quản lý nhà nước. Ngoài ra, cần thiết phải xây dựng dự án Luật này để phù hợp với quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và đảm bảo tính pháp lý đồng bộ với các Luật có liên quan. Mặt khác, trong quá trình soạn thảo dự án Luật, Bộ Tài chính đã phối hợp các bộ, ngành rà soát các quy định phạm vi điều chỉnh của Luật này phù hợp và không chồng chéo với các Luật khác.
 
Cụ thể, mục tiêu của Luật là nhằm tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động đầu tư và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào DN trên cơ sở kế thừa những quy định dưới Luật đã ban hành có liên quan đang thực hiện ổn định và có hiệu quả, bổ sung thêm những vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn cần phải có sự quản lý của Nhà nước.
 
Đồng thời phân định và làm rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của đại diện chủ sở hữu Nhà nước, đại diện chủ sở hữu của DN trong hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước đã đầu tư tại DNNN. Từ đó, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với người quản lý DN. Thực tế cho thấy, việc phân công, phân cấp quản lý vốn và tài sản tại các DN giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn chồng chéo, trùng lặp và không rõ phạm vi. Điều này dẫn đến khó xác định trách nhiệm của người đứng đầu khi xảy ra sai phạm. Vì vậy, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với DNNN nói chung cũng như hoạt động giám sát của nhà nước đối với việc sử dụng các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước đầu tư tại DNNN.
 
Ngoài ra, nhằm mục tiêu giám sát chặt chẽ, phòng và chống việc thất thoát vốn, tài sản của nhà nước, của DN trong hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN, dự án Luật quy định nội dung giám sát và các hoạt động giám sát của Quốc hội, của đại diện chủ sở hữu của DN. Với mục tiêu minh bạch, thuận lợi để các cơ quan quản lý nhà nước cũng như nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, dự án Luật đã quy định việc lập và gửi báo cáo tài chính, báo cáo giám sát và công khai các báo cáo của DN, các báo cáo của các cơ quan đại diện chủ sở hữu của DN. Dự án Luật giao Chính phủ quy định việc công khai thông tin và công bố kết quả giám sát. Việc giám sát cần gắn với việc phân loại, đánh giá DN, khuyến khích nâng cao chất lượng quản trị, năng lực cạnh tranh, công khai, minh bạch thông tin, phù hợp với môi trường hội nhập.
 
Tại báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế - cơ quan thẩm tra dự án luật đánh giá: Việc ban hành Luật Đầu tư và quản lý vốn đầu tư của Nhà nước tại DN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước đầu tư tại DN, tránh lãng phí, thất thoát và phục vụ cho quá trình thực hiện tái cơ cấu các DNNN nói riêng, tái cơ cấu nền kinh tế nói chung cũng như đóng góp tích cực vào công tác phòng, chống tham nhũng trong quản lý kinh tế.
 
Khoanh phạm vi hoạt động của DNNN
 
Luật sẽ góp phần khắc phục việc đầu tư vốn Nhà nước vào DN và việc DN sử dụng vốn, tài sản để đầu tư vào sản xuất kinh doanh không đúng mục tiêu, chiến lược, đầu tư dàn trải. Tuân thủ nguyên tắc phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đảm bảo bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, thực hiện công khai, minh bạch và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động trong đầu tư và quản lý vốn đã đầu tư của Nhà nước vào DN.
 
Về phạm vi đầu tư vốn Nhà nước vào DN (Điều 8) nhiều ý kiến cho rằng việc điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô cần được thực hiện thông qua các chính sách kinh tế, không nhất thiết phải đầu tư vốn Nhà nước vào DN. Nếu tiếp tục đầu tư vốn Nhà nước vào DN, thì cần xác định rõ những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước được đầu tư, đặc biệt ngành, lĩnh vực độc quyền tự nhiên, những ngành, lĩnh vực cần duy trì DN do Nhà nước nắm giữ 100%; nguyên tắc để mua lại một phần vốn hoặc toàn bộ DN thuộc thành phần kinh tế khác khi Nhà nước điều chỉnh cơ cấu kinh tế, trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và các dịch vụ công ích. Trong khi đó, có ý kiến lại cho rằng cần quy định tách bạch rõ chức năng sản xuất, kinh doanh của DN với hoạt động công ích.
 
Thường trực Ủy ban Kinh tế cho rằng: Việc phân định các chức năng sản xuất, kinh doanh và hoạt động công ích của DN là cần thiết, nhằm đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của DNNN, không thể viện dẫn các trách nhiệm chính trị - xã hội mà DN phải gánh vác làm ảnh hưởng đến hoạt động của DN. Dự thảo Luật chủ yếu đề cập đến loại hình DN hoạt động sản xuất, kinh doanh mà chưa đề cập đến các DN hoạt động công ích.
 
Vì vậy cơ quan này đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, bổ sung các quy định đối với DN hoạt động công ích theo hướng: “Chức năng hỗ trợ điều tiết vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội của DN phải được đổi mới và thay thế bằng cơ chế đặt hàng của Nhà nước, được hạch toán theo cơ chế thị trường” theo Kết luận số 50-KL/TW ngày 29/10/2012 tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đề án “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DN nhà nước”.
 
Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển cũng yêu cầu làm rõ ai quyết định và chịu trách nhiệm về nhân sự, vốn, đầu tư, phân phối…đồng thời, đề nghị một nguyên tắc giới hạn lại phạm vi vốn đầu tư của Nhà nước vào DN là chỉ hoạt động kinh doanh, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu mà những thành phần kinh tế khác không tham gia và việc gì tư nhân làm được thì để họ làm.
 
Về hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN cần đánh giá trên cơ sở nguồn vốn. Hiện tại cơ quan quản lý vẫn không thể làm rõ được DNNN làm ăn có hiệu quả hay không, vì phép tính cần làm trên cơ sở tính giá trị vốn được giao cộng với lãi suất trái phiếu Chính phủ dài hạn. Chính vì thế, một trong những điểm quan trọng là DNNN tham gia vào thị trường nhằm khắc phục, hạn chế tiêu cực của nền kinh tế thị trường, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về nguyên tắc đầu tư, cần làm rõ đầu tư phải đúng mục tiêu, tránh dàn trải, đúng phạm vi, đúng quy hoạch và đúng kế hoạch và phải bảo toàn được vốn.
 
Mặt khác, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, Bộ Tài chính cần phải đề cập đến các DN hoạt động công ích theo hướng, chức năng hỗ trợ điều tiết vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội của DN phải được đổi mới và thay thế bằng cơ chế đặt hàng của Nhà nước, được hạch toán theo cơ chế thị trường.
 
Có thể nói, việc ban hành Luật Đầu tư và quản lý vốn nhà nước đầu tư tại DN sẽ khắc phục các hạn chế, tồn tại phát sinh trong thực tiễn đầu tư, quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào DN trong thời gian qua, góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam.
 
(Vân Chi)