Đơn giản hóa thủ tục hải quan tương đương các nước ASEAN-6

Mục tiêu mà Bộ Tài chính đặt ra trong năm 2015 là tiếp tục rà soát và đơn giản hóa hồ sơ thủ tục hành chính và quy trình nghiệp vụ của cơ quan thuế và hải quan, phấn đấu giảm số giờ thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) thuế và hải quan (bao gồm cả thời gian nộp bảo hiểm) về mức tương đương các nước ASEAN-6 theo yêu cầu của Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ.

Ảnh minh hoạ - nguồn internet.Ảnh minh hoạ - nguồn internet.
Công tác cải cách thủ tục hành chính luôn được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm và xác định là nhiệm vụ quan trọng, góp phần giải phóng các nguồn lực của đất nước qua việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp và người dân, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước và tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp (DN).
 
Thời gian qua, Bộ Tài chính đã quyết liệt triển khai cải cách TTHC một cách đồng bộ từ xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật cho đến việc tổ chức thực hiện và toàn diện trên các lĩnh vực tài chính, đặc biệt trong các lĩnh vực thuế, hải quan để triển khai Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014 của Chính phủ, Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 5/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ.
 
Theo đó, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành triển khai nhiều hoạt động và giải pháp nhằm cải cách mạnh mẽ TTHC để những kết quả cải cách sớm đi vào cuộc sống, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp, phát huy mọi nguồn lực xã hội và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong năm 2014.
 
Để thực hiện các mục tiêu tại Nghị quyết số 19/NQ-CP và Chỉ thị 24/CT-TTg về tăng cường quản lý, cải cách TTHC về hải quan, thực hiện đơn giản hóa thủ tục hải quan, phấn đấu đến hết năm 2015 sẽ phải giảm thời gian làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất,nhập khẩu qua cảng/cửa khẩu bằng mức bình quân chung của các nước ASEAN-6, từ đầu năm đến nay, cơ quan hải quan đã thực hiện nhiều bước chuyển mạnh mẽ trong cải cách TTHC, thực hiện các giải pháp rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu.
 
Cụ thể, cơ quan hải quan đã phối hợp với Ngân hàng Thế giới, Hiệp hội Tư vấn thuế, các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu lớn… và các đơn vị có liên quan để có các giải pháp đơn giản hóa TTHC hải quan, đặc biệt là giảm thời gian thông quan. Qua đó đã sửa việc giảm thủ tục ủy nhiệm thu nộp ngân sách, giảm số chứng từ doanh nghiệp phải in khi sử dụng hải quan điện tử;...
 
Bên cạnh đó, ngành Hải quan cũng đã áp dụng thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại (VNACCS/VCIS). Đến nay, VNACCS/VCIS đã được triển khai tại tất cả các đơn vị hải quan trong toàn quốc, đảm bảo chất lượng, không gây xáo trộn hay làm gián đoạn quá trình làm thủ tục hải quan của doanh nghiệp.
 
Các DN đã nhanh chóng tiếp cận với hệ thống mới và việc thực hiện thông quan đã đi vào ổn định, việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước của cơ quan hải quan được bảo đảm, chặt chẽ và hiệu quả.
 
Việc triển khai thành công hệ thống VNACCS/VCIS đã giúp áp dụng hiệu quả phương pháp quản lý hải quan tiên tiến của Hải quan Nhật Bản phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam như: Các chứng từ trong bộ hồ sơ hải quan được đơn giản hóa và được tích hợp trong một tờ khai hải quan duy nhất; Thời gian thông quan giảm (đối với luồng xanh chỉ 3 giây); Công tác giám sát quản lý hải quan được đảm bảo chặt chẽ; Giúp cơ quan hải quan tiếp cận và áp dụng phương pháp quản lý rủi ro tiên tiến; Là tiền đề quan trọng để triển khai hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN và nâng cao trình độ quản lý hải quan của cơ quan hải quan.
 
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến ngày 20/12/2014, 100 % cục hải quan, 100% chi cục hải quan trong phạm vi toàn quốc triển khai hệ thống VNACCS/VCIS với kết quả như sau: Tính đến ngày 15/12/2014, đã có gần 50.000 DN tham gia thực hiện thủ tục hải quan trên hệ thống VNACCS/VCIS, tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) qua hệ thống VNACCS/VCIS đạt 182,45 tỉ USD (trong đó XK 91,24 tỉ USD, NK 91,21 tỉ USD); tổng lượng tờ khai 4,58 triệu bộ (XK là 2,28 triệu bộ, NK 2,3 triệu bộ). Tổng số DN tham gia 49.492 DN.
 
Thêm vào đó, Tổng cục Hải quan đã chủ trì triển khai áp dụng Cơ chế hải quan một cửa quốc gia, cụ thể trong tháng 11 và tháng 12/2014, Cơ chế hải quan một cửa quốc gia đã chính thức triển khai tại Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công Thương. Việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia (NSW) mang lại rất nhiều lợi ích cho DN, trong đó, lợi ích lớn nhất của NSW đó là thời gian để hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam qua biên giới giảm xuống đáng kể. Theo thống kê đến 31/12/2013, thời gian thông quan hàng hóa của Việt Nam là 21 ngày, nếu thực hiện tốt NSW thì thời gian thông quan hàng hóa sẽ giảm được 3,5 đến 4 ngày.
Khi triển khai NSW từ chỗ thông quan 1 lô hàng có thể phải đi xin giấy phép của nhiều bộ, ngành khác nhau rất mất thời gian và phải chuẩn bị nhiều chứng từ, NSW cho phép doanh nghiệp chỉ phải nộp 1 bộ hồ sơ duy nhất. NSW sẽ là điểm trung chuyển hồ sơ đến những nơi yêu cầu và trả hồ sơ theo đúng thời hạn cố định. NSW giúp đơn giản hóa và hài hòa thủ tục đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh, đồng thời rút ngắn thời gian và giảm chi phí trong các thủ tục thông quan giải phóng hàng hóa XNK, quá cảnh. Theo tính toán của cơ quan quản lý, NSW sẽ cắt giảm từ 10 đến 20% chi phí, 30% thời gian cho việc thông quan lô hàng xuất nhập khẩu.
 
NSW giúp đảm bảo tính công khai, minh bạch và giúp nâng cao tính dự báo của các cơ chế, chính sách do Chính phủ ban hành; nâng cao năng lực quản lý nhà nước của các cơ quan Chính phủ và năng lực quản lý, điều hành của các chủ thể kinh tế tạo tiền đề để sẵn sàng kết nối với cơ chế một cửa ASEAN (ASW) theo trao đổi thông tin thương mại với các đối tác thương mại khác trên toàn cầu.
Ngoài ra, Tổng cục Hải quan đã tích cực triển khai các giải pháp nhằm rút ngắn thời gian kiểm tra chuyên ngành, đã đề nghị 11 Bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai rà soát, ban hành quy trình kiểm tra chuyên ngành đảm bảo thống nhất các nội dung về: hồ sơ, thủ tục và trình tự đăng ký kiểm tra chuyên ngành; mẫu giấy đăng ký kiểm tra, giấy thông báo kết quả kiểm tra; biện pháp xử lý hàng hóa không đạt yêu cầu kiểm tra…, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, cụ thể: Rà soát, xây dựng và ban hành danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra trước khi thông quan. Trong đó hạn chế mặt hàng hóa đưa vào danh mục để kiểm tra trọng tâm, trọng điểm có hiệu quả.
 
Xây dựng và công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các mặt hàng thuộc Danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành trước khi thông quan làm cơ sở cho cơ quan kiểm tra thực hiện kiểm tra.
 
Rà soát để ban hành quy trình kiểm tra chuyên ngành thống nhất các nội dung sau: hồ sơ, thủ tục và trình tự đăng ký kiểm tra chuyên ngành; mẫu giấy đăng ký kiểm tra, giấy thông báo kết quả kiểm tra; biện pháp xử lý hàng hóa không đạt yêu cầu kiểm tra…; công bố danh sách tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức có chức năng kiểm tra chuyên ngành liên quan.
 
Nghiên cứu áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm thời gian thông quan hàng hóa.
 
Nghiên cứu xây dựng Trung tâm kiểm tra chuyên ngành tại các khu vực cửa khẩu lớn có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc diện kiểm tra chuyên ngành nhiều. Giai đoạn từ nay đến 2020 sẽ tập trung xây dựng 2 trung tâm tại khu vực cảng Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh và 3 Trung tâm kiểm tra chuyên ngành tại khu vực cửa khẩu đường bộ thuộc địa bàn Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai.
 
Song song với việc cải cách thủ tục hành chính, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với Kho bạc Nhà nước rà soát các điểm thu của Kho bạc nhà nước, điểm thu của các ngân hàng thương mại được Kho bạc Nhà nước ủy nhiệm thực hiện thu thuế cập nhật đúng các quy định về công tác tra cứu, cập nhật thông tin vào hệ thống trao đổi thông tin (1 giờ/1 lần thông tin thu và 1 ngày/1 lần bảng kê giấy nộp tiền).
 
Ngày 28/8/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 126/2014/TT-BTC quy định một số thủ tục về kê khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa XNK góp phần giảm nhiều thủ tục và vướng mắc đối với doanh nghiệp. Việc nộp thuế của doanh nghiệp được cơ quan hải quan cập nhật nhanh hơn, thường xuyên hơn, chính xác hơn và sẽ hạn chế tối đa việc treo nợ thuế của người nộp thuế bằng các biện pháp như: truyền thông tin thu theo từng tờ khai qua cổng thanh toán điện tử hải quan cho cơ quan hải quan 15 phút/01 lần. Thông tư số 126/2014/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2014 đã giúp doanh nghiệp thông quan nhanh lô hàng, góp phần giảm thời gian thông quan, trên cơ sở đó giám sát được những chi phí phát sinh.
 
Kể từ ngày 01/01/2015, Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành sẽ đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hoá quản lý hải quan, tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế, qua việc thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử và tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan theo hướng quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan.

(Phương An)