Gỡ khó trong triển khai chữ ký số cho ngành Tài chính

Ứng dụng chữ ký số trong các dịch vụ hành chính công ngành Tài chính, đặc biệt là thuế điện tử, hải quan điện tử trong thời gian qua đã được đánh giá rất cao, bởi nó góp phần đưa hạ tầng an toàn thông tin về chữ ký số của Việt Nam có điều kiện được triển khai trong thực tế. Tuy nhiên, việc thúc đẩy công nghệ này đi vào cuộc sống vẫn còn khó khăn, do những bất cập xuất phát từ chất lượng dịch vụ chứng thực số của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng (CA), cũng như những lo ngại về an toàn thông tin trong lĩnh vực này.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Nhu cầu lớn, bất cập nhiều
 
Sự ra đời của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/2/2007 đã đặt tiền đề xây dựng khung pháp lý về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số tại Việt Nam. Sau gần 8 năm triển khai, đến nay chữ ký số và chứng thực chữ ký số đã trở thành một dịch vụ CNTT quan trọng của cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.
 
Do nhu cầu cấp thiết áp dụng chữ ký số nhằm cải cách các thủ tục hành chính, nghiệp vụ, cung cấp các dịch vụ công điện tử cho người dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả xử lý công việc trong nội bộ, Bộ Tài chính đã sớm nghiên cứu, triển khai sử dụng các hệ thống chứng thực số do Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT), Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý ngay khi các hệ thống này bắt đầu đi vào hoạt động chính thức.
 
Từ năm 2009, Bộ Tài chính đã triển khai sử dụng chứng thư số cấp từ các doanh nghiệp CA do Bộ TTTT cấp phép, áp dụng trong các dịch vụ thuế điện tử, hải quan điện tử, trao đổi thông tin với ngân hàng, trao đổi thông tin báo cáo với các công ty đầu tư chứng khoán… Việc áp dụng chữ ký số trong các dịch vụ công này đã mang lại hiệu quả to lớn, tạo thuận lợi và tin tưởng cho người dân, doanh nghiệp.
 
Theo bà Nguyễn Thu Trà, Phó Cục trưởng Cục CNTT, Tổng cục Thuế, tính đến đầu tháng 12/2014, có 490.000 chứng thư số được doanh nghiệp đăng ký sử dụng trên hệ thống do ngành thuế quản lý. Trong đó, số chứng thư số thực sự có giao dịch nộp tờ khai là hơn 460.000.
 
Tổng cục Thuế áp dụng chữ ký số cho các dịch vụ công gồm: Dịch vụ khai thuế điện tử, dịch vụ nộp thuế điện tử, trao đổi thông tin chứng từ Kho bạc Nhà nước, dịch vụ hóa đơn điện tử, dịch vụ thế điện tử, nộp thuế điện tử với các đơn vị T-VAN, thông báo nghĩa vụ thuế của người nộp thuế do cơ quan thuế gửi cơ quan tài nguyên môi trường.
 
Trong khi đó, Tổng cục Hải quan cũng đã triển khai thủ tục hải quan điện tử từ cách đây gần 10 năm. Từ khi Việt Nam bắt đầu có ứng dụng chữ ký số và các Luật, Nghị định ra đời cùng các văn bản hướng dẫn liên quan, Tổng cục Hải quan dưới sự chỉ đạo của Bộ Tài chính đã bắt tay vào nghiên cứu và ứng dụng chứng thực số. Đây là bước đi đúng đắn nhằm đảm bảo quy định pháp lý về các chứng từ giao dịch trên mạng.
 
Theo ông Nguyễn Trần Hiệu, Phó Cục trưởng, Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan), hiện nay trên hệ thống hải quan có 64.904 chứng thư số đăng ký sử dụng, bao gồm chứng thư số của tất cả 9 CA công cộng.
 
“Chúng tôi khuyến khích doanh nghiệp tái sử dụng chứng thư số đã đăng ký với bên thuế rồi, thì nên tái đăng ký sử dụng chứng thư số đó với bên hải quan. Sử dụng chứng thư số là bắt buộc nhưng cần phải sử dụng như thế nào đó để hiệu quả và tiết kiệm nhất”, ông Hiệu cho biết.
 
Không riêng ngành Thuế hay ngành Hải quan, nhu cầu triển khai ứng dụng chứng thư số tại Bộ Tài chính vẫn rất lớn và phủ rộng tới cả 3 đơn vị còn lại gồm: Kho bạc Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán và Tổng cục Dự trữ Nhà nước.
 
Mặc dù nhu cầu lớn, nhưng theo phản ánh của các đơn vị thuộc Bộ Tài chính trong buổi làm việc cùng đại diện Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (Bộ TTTT) diễn ra đầu tháng 12/2014 vừa qua, hiện vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại về an toàn thông tin cũng như chất lượng dịch vụ chứng thực chữ ký số của các CA công cộng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả triển khai ứng dụng chữ  ký số trong các dịch vụ hành chính công thuộc lĩnh vực tài chính.
 
Theo số liệu của Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia, cả nước hiện có 9 CA được Bộ TTTT cấp phép hoạt động với chưa đến 500.000 chứng thư số, trong đó đa phần được doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các dịch vụ liên quan tới thuế điện tử và hải quan điện tử. Thời gian qua, hoạt động cung cấp chứng thư số công cộng gặp phải sự cạnh tranh gay gắt giữa các CA và vì thế cũng xuất hiện nhiều “chiêu trò” do đại lý bày ra để tranh giành khách hàng. Các CA tiếp cận doanh nghiệp để mua bán chứng thư số theo cách thiếu chuyên nghiệp, gây lộn xộn làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp tham gia sử dụng các dịch vụ công của ngành Tài chính.
 
Trao đổi về những vướng mắc của ngành Thuế, bà Nguyễn Thu Trà cho biết, ngành Thuế đặt mục tiêu cuối năm 2014 có 95% doanh nghiệp trên cả nước nộp tờ khai qua mạng. Từ tháng 2/2014, Tổng cục Thuế bắt đầu triển khai nộp thuế điện tử và bước đầu thí điểm trên 18 tỉnh thành, nhưng đến nay số lượng doanh nghiệp tham gia nộp thuế điện tử chưa nhiều với khoảng 5.000 doanh nghiệp đăng ký nhưng thực tế chỉ có 2.000 doanh nghiệp trong số đó nộp thuế điện tử. Đa phần doanh nghiệp vẫn lo lắng sẽ gặp rủi ro khi nộp thuế qua mạng. Ngay cả các ngân hàng cũng chưa thực sự tin tưởng vào chữ ký số.
 
Hiện nay, hệ thống của cơ quan thuế chỉ kiểm soát tiền chuyển từ tài khoản người nộp thuế đã đăng ký với cơ quan thuế để chuyển sang tài khoản của Kho bạc Nhà nước thu, vậy mà cả người nộp và ngân hàng cũng cũng rất “rón rén”. Nếu sau này dịch vụ nộp thuế điện tử phát triển hoàn hảo hơn, có thể cho phép chuyển tiền từ tài khoản nọ sang tài khoản kia để nộp thuế thì chưa rõ người dùng có đủ tin tưởng để thực hiện hay không.
 
“Chúng tôi cũng đang phối hợp trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên môi trường để thực hiện cấp giấy chứng nhận đất đai cho nhanh. Trong quy trình đó có sử dụng chữ kỹ số của cơ quan thuế và tài nguyên môi trường chuyển cho nhau và sử dụng chữ ký số của cơ quan thuế để chuyển thông báo thuế cho người nộp thuế. Việc này đang gặp khó ở chỗ: hiện nay câu chuyện chấp nhận sử dụng chứng từ có chứng thư số vẫn chưa phổ biến trong xã hội. Chúng tôi mong Bộ TTTT đưa ra cơ chế nào đó để đơn vị thứ 3 khi tiếp nhận chứng từ có chữ ký số thì họ phải chấp nhận chứng từ đó và có cách nào đó để nhận biết, tra cứu xem đó là chứng từ thật hay giả”, bà Nguyễn Thu Trà chia sẻ.
 
Bên cạnh đó, giá bán chứng thư số hiện nay vẫn ở mức tương đối cao và chưa thực sự phù hợp. Trong quá tình triển khai, có một số doanh nghiệp nhỏ mà ngành Thuế mong muốn họ tham gia dịch vụ khai thuế, nộp thuế điện tử để giảm thủ tục hành chính, nhưng do giá thành mua chứng thư số chưa hợp lý lại trở thành một trong những “rào cản” quá trình vận động doanh nghiệp tham gia vào dịch vụ này.
 
Nguy hiểm hơn nữa là các thiết bị lưu chứng thư số chưa được các doanh nghiệp coi trọng, quản lý chặt chẽ. Mặc dù chữ ký điện tử quan trọng tương đương với chữ ký tay, nhưng các doanh nghiệp quản lý lỏng lẻo như con dấu, các cá nhân không có thẩm quyền có thể được nắm giữ thiết bị này, thậm chí chuyển giao lung tung từ người này sang người kia.
 
Ngoài ra, hoạt động thu hồi chứng thư số thời gian qua chưa được các đơn vị CA cập nhật và công bố thông tin kịp thời. Các danh sách chứng thư số bị các CA thu hồi (CRL) thường không đầy đủ và cập nhật cũng như chưa sẵn sàng cung cấp trên Internet, gây khó cho cơ quan thuế trong việc kiểm tra tính hợp lệ của chứng thư số trong chứng từ giao dịch.
 
Mặt khác, hiện nay số lượng người nộp thuế tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử khá lớn, nhưng các CA vẫn vẫn chưa phát huy được vai trò trong việc cấp phát và hướng dẫn sử dụng chứng thư số cho người nộp thuế, nên khi gặp vướng mắc gì trong quá trình sử dụng chứng thư số người nộp thuế cũng tìm đến cơ quan thuế để hỏi.
 
Ngược lại, nhiều người nộp thuế do thiếu thông tin hướng dẫn nên gặp vướng mắc về nghiệp vụ thuế hay vướng mắc trong sử dụng các ứng dụng về thuế lại tìm tới CA để yêu cầu được hỗ trợ.
 
Theo phản ánh của cơ quan thuế, hiện còn có tình trạng CA gửi công văn đứng danh là cơ quan thuế mời doanh nghiệp đến chào bán chữ ký số, thậm chí lôi kéo khách hàng CA khác, trong khi không có đại diện nào của cơ quan thuế ở cuộc họp.
 
Thêm vào đó, nhiều đơn vị CA cũng không kiểm soát chặt chẽ việc cấp phát chứng thư số và kiểm tra hợp đồng cung cấp dịch vụ người nộp thuế gửi. Thậm chí có đơn vị CA còn cấp chứng thư số trước cho người nộp thuế khi chưa có hợp đồng, đồng thời thực hiện luôn đăng ký sử dụng dịch vụ cho người nộp thuế, vi phạm quy định về cấp phát chứng thư số.
 
Theo thống kê, năm 2013 trong hệ thống của cơ quan thuế có 10.000 tài khoản đã đăng ký mà trong vòng 6 tháng không được sử dụng, đây đa phần là tài khoản thuộc dạng cấp phát trước và không sử dụng. Hiện tại con số này rơi vào khoảng 6.000-7.000 tài khoản như vậy, đó đều có thể coi là những trường hợp sử dụng chứng thư số giả mạo để đăng ký thủ tục hành chính thuế điện tử.
 
Cũng tại cuộc họp, đại diện các đơn vị cho rằng việc triển khai chứng thư số còn gặp vướng mắc đối với các thủ tục cần giấy tờ đính kèm, nhưng khi chuyển đổi từ chứng từ giấy sang điện tử và ngược lại thì hiện tại chưa có đơn vị nào đủ pháp lý để chứng thực đây là bản điện tử được sao y bản giấy và ngược lại bản giấy in ra từ bản điện tử.
 
Chung tay cùng vượt khó
 
Đứng trước những tồn tại liên quan tới khâu phân phối, tiêu thụ chứng thư số đến người sử dụng và tồn tại về mặt kỹ thuật, ông Nguyễn Trần Hiệu cho rằng, trong quá trình tiếp nhận thông điệp có chữ ký số, phía hải quan luôn quan tâm đến việc phải kiểm tra xem chứng thư số đó còn hiệu lực hay không và mức độ tin tưởng đến đâu. Vì vậy, Trung tâm chứng thực điện tử quốc gia với vai trò là đơn vị giúp việc cho Bộ TTTT quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cần phải đưa ra được các quy định, luật lệ vừa đơn giản, nhưng phải vừa chặt chẽ để đảm bảo người sử dụng chứng thư số bao gồm cả cơ quan sử dụng chứng thư số, người gửi và người nhận đều gặp thuận lợi.
 
Các cơ quan này tránh can thiệp quá sâu vào thị trường, để cho thị trường tự động điều chỉnh, có như vậy các nhà cung cấp dịch vụ mới đủ động lực và mục tiêu tăng cường chất lượng dịch vụ. Chẳng hạn như đối với tình trạng các CA tranh giành khách hàng của nhau, các đại lý có quyền tư vấn cho khách hàng dùng dịch vụ của CA nào có lợi cho công việc của họ. Người dùng cũng cần tự mình trở thành người sử dụng thông minh.
 
Cơ quan quản lý nhà nước nên đưa ra quy định và nguyên tắc chung để các CA thực hiện, nhưng không nên can thiệp ở góc độ ngăn cản người sử dụng không nhảy từ sử dụng dịch vụ của CA này sang CA kia. Các yêu cầu tiêu chuẩn đối với hạ tầng CNTT của các cơ quan nhà nước nhằm tiếp nhận xử lý các thông điệp có chữ ký số cũng cần được đặt ra.
 
“Cơ quan quản lý phải đưa ra chính sách đảm bảo minh bạch cho các bên thực hiện và tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, người sử dụng cuối cùng có quyền sử dụng chất lượng dịch vụ mà tránh sự can thiệp quá mức.”, ông Nguyễn Trần Hiệu nêu quan điểm.
 
Xuất phát từ thực tế triển khai trong ngành Thuế, bà Nguyễn Thu Trà cũng đề xuất biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ các CA công cộng trong việc triển khai ứng dụng chữ ký số, đó là cần cá nhân hóa chữ ký số. Điều này có nghĩa là việc cấp chứng thư số cần phải cấp cho cá nhân người có thẩm quyền trong tổ chức, doanh nghiệp, chứ không phải cấp chứng thư số cho tổ chức, doanh nghiệp và sử dụng thay con dấu như hiện nay. Danh sách chứng thư số bị CA thu hồi cần được cập nhật, công bố kịp thời và thêm kênh kiểm tra trạng thái chứng thư số online theo giao thức OCSP.
 
Bà Trà cũng cho rằng, cần có cơ chế phối hợp giữa các CA và cơ quan thuế trong việc tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, hiểu đúng về bản chất, tính an toàn bảo mật và giá trị pháp lý của chứng thư số, giúp người nộp thuế yên tâm, sẵn sàng sử dụng trong các giao dịch điện tử không giới hạn trong lĩnh vực thuế.
 
Ngoài ra, việc sử dụng chữ ký số trong  trao đổi, lưu trữ các văn bản, hồ sơ giấy tờ trong nội bộ ngành Thuế, cũng như trong giao dịch điện tử giữa cơ quan thuế và các đơn vị thứ 3 như: Kho bạc Nhà nước, ngân hàng, hải quan… cần được sử dụng triệt để hơn nữa.
 
Cũng theo đề xuất từ các đơn vị sử dụng chứng thư số trong ngành Tài chính, Bộ TTTT cần yêu cầu các CA cung cấp đầy đủ danh sách và thông tin hỗ trợ cụ thể cho người dùng trên Cổng thông tin của Bộ TTTT. Về vấn đề giá của chứng thư số, Bộ TTTT cần có quy định cụ thể hơn vì hiện tại mỗi CA tùy theo chiến lược kinh doanh của mình mà đưa ra mức giá và khuyến mại khác nhau, dẫn tới người sử dụng không đánh giá được thực chất chất lượng của dịch vụ. Do đó, Bộ TTTT nên có chính sách để CA thu tiền dịch vụ chứng thực chữ ký số theo số lần kê khai hoặc giá trị của giao dịch, đảm bảo quyền lợi và sự công bằng cho người sử dụng.
 
Đồng thời, Bộ TTTT cũng cần sớm đưa ra cơ chế cập nhật thông tin và các kỹ thuật mới theo tiêu chuẩn của thế giới, yêu cầu các đơn vị cung cấp CA nâng cao chất lượng và kỹ thuật trong giải pháp cung cấp cho xã hội.
 
Ngoài ra, một yêu cầu nữa đặt ra cho Bộ TTTT là sớm bổ sung quy định về tính pháp lý cho các văn bản đã ký chữ ký số và có lộ trình thực hiện việc “công chứng” cho các văn bản điện tử dùng chữ ký số, nhằm giúp toàn xã hội có căn cứ sử dụng, đưa chữ ký số thực sự đi vào cuộc sống.
 
Với mong muốn khắc phục những bất cập về chữ ký số nói chung và trong lĩnh vực tài chính nói riêng, ông Đào Đình Khả, Giám đốc Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia cho biết, sắp tới Bộ TTTT sẽ thắt chặt quy trình cấp phép, cũng như quản lý hoạt động của các đại lý, một mắt xích đang tồn tại nhiều yếu kém nhất trong quá trình cung cấp chứng thư số.
Bộ TTTT dự kiến đưa ra quy trình quản lý đại lý chứng thư số theo 4 hướng: Hướng thứ nhất, thực hiện chương trình làm đơn giản hóa thông tin và công bố công khai các thủ tục đăng ký chữ ký số, chứng thực chữ ký số để người dân và doanh nghiệp dễ dàng biết và thực hiện.
 
Hướng thứ 2 là xác định mối quan hệ giữa CA và đại lý, sắp tới Bộ TTTT yêu cầu mọi CA phải ký hợp đồng với các đại lý, hợp đồng đó sẽ do Bộ TTTT chuẩn hóa nội dung và trực tiếp quản lý. Nhân viên của các đại lý phải được đào tạo để hiểu tầm quan trọng của chứng thư số, tránh tình trạng thiếu tôn trọng khách hàng, cũng như nhân viên đại lý sẽ có tránh nhiệm hơn đối với việc đảm bảo an toàn thông tin cho khách hàng và cho cả hệ thống.
 
Không chỉ nhân viên đại lý, cán bộ CA cũng phải đi học và phải thực hiện bài kiểm tra hàng năm, đối với đại lý là 2 năm một lần.
 
“Chúng tôi chỉ chấp nhận chứng thư số nào do người làm trực tiếp có ID được cấp có đủ điều kiện này. Vì nếu 1 chứng thư số làm sai hồ sơ sẽ dẫn đến việc mất kiểm soát, phải hoạt động của cả hệ thống khiến tất cả người dùng bị ảnh hưởng”, ông Khả cho biết.
 
Hướng thứ 3 là, trong quý 1/2015, Bộ TTTT sẽ triển khai việc quản lý chặt chẽ dữ liệu số chứng thư số của người dùng, mỗi 1 chứng thứ số mà CA bán cho khách hàng (ID) sẽ phải báo cáo lên Bộ TTTT và nằm trong dữ liệu quản lý của Bộ để tránh tình trạng lộn xộn trong việc cấp chứng thư số trong thời gian qua.
 
Dựa vào dữ liệu đó, Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia sẽ phân tích để đánh giá tiềm năng cũng như rủi ro. Trung tâm cũng sẽ lập đường dây nóng để đưa tất cả ID người dùng có dấu hiệu khả nghi vào diện theo dõi đặc biệt.
 
Hướng thứ 4, Bộ TTTT cũng đưa ra chủ trương thực hiện cơ chế cho phép các CA chỉ điểm lẫn nhau, nghĩa là các doanh nghiệp nếu phát hiện việc làm sai trái của nhau, có thể tố cáo lên cơ quan quản lý nhà nước, nhằm hạn chế việc các doanh nghiệp phớt lờ các quy định, cố tình làm thiếu và bỏ qua các giấy tờ cần thiết khi làm thủ tục hồ sơ cấp chứng thư số cho khách hàng.
 
Để phát hiện kịp thời và khắc phục gốc rễ của các bất cập trong lĩnh vực này, ông Đào Đình Khả cho biết thêm, sắp tới Bộ TTTT mong muốn tăng cường công tác phối hợp thông tin với các cơ quản sử dụng chứng thư số trong các dịch vụ hành chính công như: cơ quan thuế, hải quan… để có biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như tăng cường rà soát, ngăn chặn, xử lý các rủi ro.
 
Theo xu hướng phát triển phương thức giao dịch điện tử, việc sử dụng con dấu như trước đây sẽ không còn nhiều ý nghĩa, thay vào đó chữ ký số và chứng thực chữ ký số có thể sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
 
Vì vậy, để việc triển khai ứng dụng chữ ký số được hiệu quả, các bên tham gia vào lĩnh vực này từ cơ quan quản lý nhà nước, CA, đơn vị sử dụng chữ ký số trong cải cách thủ tục hành chính công đến người dân, doanh nghiệp cần nâng cao ý thức, cùng nhau phối hợp hành động, tiến tới mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn thông tin cho toàn hệ thống.
 
(Thanh Huyền)