Hiểu thế nào về nội dung số trong cơ quan nhà nước?

Đã gần 15 năm kể từ khi cụm từ “nội dung số” được xác định chính thức qua các văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước, song cho đến nay rất ít bài viết đề cập tới khái niệm chính thống nội dung số là gì, hay nên như thế nào, nhất là về nội dung số ở các cơ quan nhà nước. Thông qua một số bài viết, bài nghiên cứu nói về nội dung số, chúng tôi muốn đưa ra một số ý về nội dung này.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Trước hết, có thể hình dung một cách ngắn gọn là: Các sản phẩm của nội dung số (Digital Content) theo khái niệm kỹ thuật, đó là các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) được tạo ra phục vụ cho các nhu cầu nghe, nhìn, trao đổi thông tin ở hình thức kỹ thuật số (digital form).

Hiện nay, có hai ngành chính về nội dung số đang được đề cập đến nhiều là: công nghiệp nội dung số và dịch vụ nội dung số. Đối với ngành công nghiệp nội dung số, thời gian qua đã được bàn đến nhiều, đề cập nhiều trên các văn bản nhà nước, cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các thể hiện của nó tương đối nổi bật là: sản xuất và phân phối các sản phẩm về game, âm nhạc, hình ảnh (các loại); nội dung cho các mạng di động; quảng cáo internet và thương mại điện tử (kể cả xổ số điện toán, bán vé qua mạng,…).

Còn các dịch vụ nội dung số hiện đang nổi lên là các sản phẩm về giáo dục (e-learning, e-trainning,…); các sản phẩm về dịch vụ cung cấp, trao đổi thông tin (thư viện điện tử, các kho dữ liệu,…); các dịch vụ điện tử về y tế (dữ liệu điện tử theo dõi bệnh án,…), chăm sóc sức khỏe  và tinh thần; các dịch vụ qua mạng (cả hữu tuyến và vô tuyến) về thông tin kinh tế xã hội, về tài chính, ngân hàng, chứng khoán và dịch vụ công trực tuyến của các cơ quan quản lý nhà nước.

Vậy nội dung số ở các cơ quan nhà nước nói chung là làm những gì, yêu cầu cho từng việc là gì?

Những công việc cơ bản thuộc nội dung số

Nội dung số trong các cơ quan nhà nước cơ bản sẽ bao gồm các việc chính là: Số hóa các quy trình công việc và các nghiệp vụ chuyên môn của các cơ quan nhà nước. Đây, thực chất là nội dung của chương trình hiện đại hóa ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước đã được ban hành. Nội dung này đã được bàn đến từ lâu và đã được thể chế hóa qua nhiều văn bản của nhà nước. Có thể đánh giá hầu hết các cơ quan nhà nước hiện nay đều đã có các chương trình, kế hoạch về hiện đại hóa được duyệt và đang triển khai rất tích cực. Vì vậy, việc số hóa này là đã rất rõ ràng, không cần bàn thêm nhiều gì ở đây. Số hóa hệ thống các văn bản thuộc chức năng quản lý nhà nước do cơ quan ấy ban hành, kể cả văn vản pháp quy và văn bản điều hành. Đây là nhu cầu và cũng là yêu cầu để minh bạch hóa, công khai thể chế chính sách chế độ quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước trước toàn dân.

Nội dung này cũng được xác định lâu nay và cũng đã có nhiều kết quả, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu văn bản pháp quy do cả các đơn vị công, lẫn các tư nhân xây dựng. Song, riêng về số hóa các văn bản điều hành chưa được thật sự quan tâm.

Theo đánh giá của TS Hoàng Lê Minh, Viện trưởng, Viện Công nghiệp phần mềm và Nội dung số (CNPM và NDS) Việt Nam, công tác tạo lập nội dung số ở nhiều cơ quan thiếu tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm. Trong năm 2010, viện CNPM và NDS Việt Nam đã thực hiện công tác xây dựng chuẩn và định mức kinh tế kỹ thuật (KTKT) nhằm phục vụ phát triển ngành CNPM và NDS. Quá trình khảo sát sơ bộ tại 22 bộ ngành và địa phương cho thấy một vấn đề tồn tại phổ biến là việc tạo lập và trao đổi các nội dung số giữa các cơ quan, đơn vị trực thuộc với bộ chủ quản; giữa các đơn vị với nhau và giữa các bộ hiện chỉ là các văn bản soạn thảo bằng phần mềm soạn thảo văn bản và không có giá trị về pháp lý. Đơn vị nhận văn bản luôn phải đợi văn bản giấy, có dấu mới triển khai được.

Tạo dựng và vận hành các cơ sở dữ liệu, thông tin thuộc và thông tin có liên quan của toàn bộ quy trình quản lý, quá trình hoạt động mà cơ quan ấy đảm nhiệm (bao gồm đến tận những việc về tổ chức khai thác và trao đổi các thông tin để duy trì, phát triển và dịch vụ cung cấp trao đổi thông tin trên các CSDL ấy).

Trong các kế hoạch, chương trình hiện đại hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước được duyệt luôn có nội dung này. Ngay từ thời ban đầu của chương trình hiện đại hóa nhà nước theo Đề án 112 cũ, đến nay cũng chỉ có vài CSDL quốc gia được thực thi và còn duy trì hoạt động, trong đó nổi lên là các CSDL quốc gia về tài chính ngân sách và xuất nhập khẩu.

Nhiều CSDL quốc gia khác được đặt ra nhưng trong thực thi đều bị chia xẻ nhỏ các nội dung hoặc tạm quên.Cũng theo các nguồn thông tin trên về báo cáo đánh giá của TS Hoàng Lê Minh về kết quả khảo sát đã nêu, quá trình tạo lập và trao đổi nội dung số còn nhiều tồn tại bất hợp lý. Ví dụ như công tác tạo lập nội dung số ở mức độ đơn giản là số hóa tài liệu, văn bản, tạo lập một số thông tin mô tả, đăng ký vào hệ thống thông tin để quản lý và trao đổi trong và với các hệ thống thông tin khác tại các đơn vị bộ, ngành là chưa được thực hiện tốt, thiếu mô hình, qui trình qui phạm, thiếu chuẩn mực. Hầu như gần 100% các đơn vị nhận được văn bản, hồ sơ chỉ số hóa công văn đến, không số hóa tài liệu gửi kèm. Nhiều đơn vị còn không số hóa công văn gửi đến mà chỉ tạo lập một số thông tin mô tả để nhập vào CSDL.Việc này dẫn đến một thực trạng là không có dữ liệu gốc số hóa, và đơn vị ngoài một số thông tin không có tính pháp lý trao đổi qua mạng, vẫn phải làm việc trên hệ thống hồ sơ giấy.

TS Hoàng Lê Minh cho rằng: “Thiếu tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm cho công tác tạo lập nội dung số này là nguyên nhân chính của hiện trạng này”. Kết luận này chính là vấn đề cần quan tâm bàn đến.

Xây dựng và tổ chức vận hành các dịch vụ công trực tuyến mà đơn vị đó phải thực hiện theo quy định của nhà nước (kể cả những việc như thực hiện chứng thực số…). Đây là vấn đề rất rộng và mới, mặc dù nó đã được đưa thành các quy định của nhà nước như: Nghị định 43/2011/NĐ-CP; Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin (ƯDCNTT) trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Vấn đề cần bàn thống nhất xác định ở đây là: nó là gì và các đặc trưng của nó thế nào? Theo lý luận chung về nội dung này, có thể xác định khái niệm về dịch vụ công như sau (xem thêm: bài Dịch vụ công của GS TS Lê Chi Mai đăng trên trang thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/05/24/dịch_vụ_cn): Có nhiều chủ thể tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ cho xă hội, các chủ thể này rất đa dạng, từ các cơ quan hành chính nhà nước cho đến các doanh nghiệp công và tư, các tổ chức xă hội và từng cá nhân.

Song, có những loại dịch vụ rất quan trọng phục vụ nhu cầu chung của cả cộng đồng, nhưng không một tư nhân nào muốn cung ứng, vì nó không mang lại lợi nhuận, hoặc vì tư nhân đó không có đủ quyền lực và vốn liếng để tổ chức việc cung ứng, chẳng hạn như dịch vụ tiêm chủng, cứu hỏa, thoát nước… Đó lại là những loại dịch vụ tối cần thiết phục vụ cho cuộc sống an toàn và bình thường của xă hội. Đối với những loại dịch vụ này, không có ai khác ngoài nhà nước có khả năng và trách nhiệm cung ứng cho nhân dân.

Cũng có những loại dịch vụ mà tư nhân có thể cung cấp, nhưng cung cấp không đầy đủ, hoặc thị trường tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng trong xă hội, gây ra tình trạng độc quyền, đẩy giá cả lên cao, làm ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu dùng, chẳng hạn như dịch vụ y tế, giáo dục, điện, nước sinh hoạt… Khi đó, nhà nước phải có trách nhiệm trực tiếp cung ứng hoặc điều tiết, kiểm soát thị trường tư nhân nhằm bảo đảm cho việc cung ứng dịch vụ đó được bình thường, phục vụ những quyền cơ bản của con người.

Trong đời sống xã hội cũng tồn tại một dạng dịch vụ đặc biệt khác mà không một tư nhân nào ngoài nhà nước đứng ra cung ứng, cho dù tư nhân đó có nguồn lực to lớn đến đâu. Loại dịch vụ này gắn liền với chức năng cai trị của nhà nước hoặc chức năng quản lý nhà nước. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước có nhiệm vụ ban hành chính sách, văn bản pháp quy, quản lý các công việc của đời sống xă hội, bảo đảm cho xă hội phát triển có kỷ cương, trật tự. Tất cả những công việc nói trên thuộc về chức năng vốn có của bộ máy hành chính nhà nước.

Nói cách khác, nhân dân tổ chức ra nhà nước, trao quyền lực cho nhà nước để nhà nước thực thi những nhiệm vụ của một cơ quan công quyền, dùng quyền lực công để cai quản toàn bộ xă hội. Những quyền lực này không thể giao cho bất kỳ một cá nhân hoặc tổ chức tư nhân nào, dù tổ chức đó có tiềm lực lớn đến đâu. Như vậy, chủ thể cung ứng dịch vụ công ở đây là chính phủ hay các cơ quan trực thuộc chính phủ (cơ quan hành chính nhà nước các cấp). Do đó, các dịch vụ công ở đây bao gồm: các hoạt động có tính chất chính trị mà chính phủ tiến hành nhằm thiết lập trật tự xă hội theo pháp luật và những hoạt động cung ứng cho xă hội những hàng hóa và dịch vụ phục vụ các nhu cầu chung, thiết yếu của người dân.

Nghĩa là, thông qua việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước vốn có của mình, nhà nước có trách nhiệm cung cấp cho xă hội những dịch vụ mà không một tư nhân nào có thể đứng ra cung ứng.

Theo đó, các dịch vụ công mà chính phủ cung ứng bao gồm: Chính sách, pháp luật, hoạt động liên chính phủ; an ninh quốc gia, duy trì các thể chế dân chủ cơ bản; các hoạt động lập quyền thi hành pháp luật; các hoạt động kết cấu hạ tầng (bao gồm kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xă hội); cung ứng phúc lợi xă hội; cung cấp thông tin tư vấn.

Yêu cầu chủ yếu đối với các công việc thuộc nội dung số

Đối với việc số hóa các văn bản: Như đã nêu trên, theo nhiều khảo sát thực trạng việc này hiện nay tại các cơ quan nhà nước, công tác trao đổi văn bản giữa các đơn vị chủ yếu bằng email, hoặc dựa trên nền email, chỉ chuyển được dữ liệu số hóa. Trong khi đó, các thông tin mô tả về người dùng, quyền, bản quyền... là những thông tin quản lý cần phải được chuyển giao giữa các hệ thống thông tin thì rất ít được chuẩn hóa thành quy trình quy phạm.

Người nhận phải tự trích xuất, đăng ký lại vào hệ thống – đó là điều bất cập cho người sử dụng. Đây cũng là nguyên nhân làm cho việc trao đổi giữa các hệ thống thông tin hiện nay khó quản lý được. Nên để các văn bản tài liệu, dữ liệu được số hóa, lưu trữ hình thành các CSDL nội dung số phục vụ khai thác, trao đổi trên mạng, nhiệm vụ cần thiết phải làm ngay là đưa các hoạt động tạo lập, lưu trữ, trao đổi nội dung số vào quy củ, mang tính chuyên nghiệp, rồi trở thành một hoạt động của lĩnh vực dịch vụ về nội dung. Nghĩa là phải xây dựng các chuẩn về nhân lực CNTT, chuẩn tạo lập nội dung số, chuẩn về lưu trữ nội dung số, chuẩn về trao đổi và bảo vệ bản quyền nội dung số.

Đối với việc tạo lập và vận hành các cơ sở dữ liệu, thông tin: Nhìn chung hiện nay đã có khá nhiều CSDL của các cơ quan quản lý nhà nước. Công tác lưu trữ tài liệu số hóa chủ yếu đang được thực hiện bởi các phần mềm quản lý CSDL, quản lý nội dung của những nhà cung cấp phần mềm lớn như IBM, Oracle, Microsoft… Tuy nhiên, các CSDL nêu trên hầu hết được thiết kế dựa trên sự hình thành CSDL tạo ra từ phần mềm. Nên mỗi  khi nâng cấp phần mềm hoặc chuyển đổi sang phần mềm khác việc đọc thông tin đều trở nên  khó khăn: nếu không dùng phần mềm đang sử dụng thì khó đọc được dữ liệu, thậm chí phải thiết kế lại CSDL hoặc phần mềm rồi chuyển đổi lại hệ thống dữ liệu đó.

Từ đó dẫn đến việc tổ chức khai thác và làm dịch vụ khai thác khó đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng. Bất cập này là do chưa có tiêu chuẩn, qui trình, qui phạm cho công tác lưu trữ tài liệu số hóa. Vì thế, yêu cầu về quy chuẩn quốc gia đối với hệ thống CSDL trong cơ quan nhà nước, nghiên cứu về các chuẩn quy trình tạo lập kho dữ liệu nội dung số phi cấu trúc; nghiên cứu xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dữ liệu đặc tả áp dụng trong cơ quan nhà nước… là đòi hỏi cần thiết.

Đối với dịch vụ công trực tuyến: Cung cấp các dịch vụ công trực tuyến là một nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, triển khai chính phủ điện tử. Điều đó không những tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và doanh nghiệp, mà còn góp phần làm giảm áp lực giấy tờ công việc lên chính các cơ quan quản lý nhà nước.

Qua các kết quả khảo sát đánh giá xếp hạng trang thông tin, cổng thông tin điện tử (TTĐT) của các bộ, ngành và các địa phương mấy năm qua, có thể thấy các trang, cổng TTĐT của nhiều bộ, ngành, địa phương ngày càng có nhiều thêm các dịch vụ hành chính công và được đầu tư mạnh. Chất lượng cũng đã có tiến bộ rõ rệt trong việc cung cấp kịp thời hơn và đầy đủ hơn những thông tin chủ yếu để phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Mục tiêu cụ thể trong giai đoạn 2011-2015 là 100% các cơ quan nhà nước (CQNN) từ cấp quận, huyện, sở, ban, ngành hoặc tương đương trở lên có cổng hoặc trang thông tin điện tử, cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 tới người dân và doanh nghiệp. Người sử dụng có thể tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu và được thông báo tình trạng xử lý các thủ tục hành chính của các CQNN qua mạng.

Hướng tới năm 2015, CQNN cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp; cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Cụ thể, tại các tỉnh, thành phố sẽ ưu tiên cung cấp 11 dịch vụ công trực tuyến tối thiểu mức độ 3 gồm: Đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; cấp giấy phép xây dựng; chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; giấy phép đầu tư; giấy đăng ký hành nghề y, dược; lao động, việc làm; cấp, đổi giấy phép lái xe; giải quyết khiếu nại, tố cáo; đăng ký tạm trú, tạm vắng và dịch vụ đặc thù.

Ngoài ra, sẽ có 207 dịch vụ công trực tuyến tối thiểu mức độ 3 được ưu tiên thực hiện tại các bộ, cơ quan ngang bộ như: Cung cấp thông tin và khai báo hộ khẩu, hộ tịch, tạm trú, cư trú; cấp hộ chiếu; cung cấp thông tin và khai báo chứng minh nhân dân (CMND); thủ tục cấp giấy phép, bằng lái xe ô tô, xe máy; tiếp nhận hồ sơ Hải quan điện tử; tra cứu thông tin về thuế, trạng thái hồ sơ hải quan…

Đó chính là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nằm trong của Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bởi việc cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp, sẽ làm cho hoạt động của CQNN minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.

Nội dung số ở ngành Tài chính

Từ những nội dung đã nêu trên, công việc về nội dung số ở ngành Tài chính cần làm cũng cần tập trung trước hết theo 3 vấn đề chính như đã đặt ra:

Số hóa các văn bản cả văn bản pháp quy và văn bản điều hành: CSDL văn bản pháp quy là một trong những CSDL đầu tiên được xây dựng và vận hành của kho dữ liệu quốc gia của Bộ Tài chính. Qua gần 15 năm xây dựng và phát triển nó đã mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, không chỉ trong phạm vi ngành tài chính. Song cho đến nay, nó cũng có nhiều điểm yếu cần được bổ sung, điều chỉnh, như: chưa được cập nhật kịp thời, quy trình cập nhật mang tính thủ công là chủ yếu, thiếu nhiều loại văn bản cần thiết (nhất là các văn bản điều hành, mà đôi khi tìm bên ngoài lại có), chưa có phần bằng ngoại ngữ, cơ chế khai thác chưa thông thoáng, thiếu nhiều công cụ hỗ trợ tìm kiếm, môi trường phục vụ khai thác, công cụ hỗ trợ người khuyết tật, khả năng tích hợp với các CSDL khác liên quan chưa cao…

Việc xây dựng một CSDL văn bản pháp quy toàn diện và cập nhật kịp thời của ngành tài chính là rất cần thiết đối với xã hội, bởi nó là công bố chính thức của ngành tài chính về hoạt động quản lý nhà nước của mình, các văn bản điều hành sẽ không thể có nơi nào có được đầy đủ và cập nhật bằng. Vấn đề đặt ra là cần được tổ chức xây dựng lại sao cho khắc phục được các điểm yếu đã nêu, và tiến tới tổ chức phục vụ khai thác và hỗ trợ như là một đơn vị tư vấn các nội dung về tài chính cho người dùng.

Để có nguồn cung cấp đầy đủ và kịp thời tất cả các văn bản của ngành, cần xác định đủ các nguồn và ban hành chế độ cung cấp thông tin tự động cho CSDL, chế độ trách nhiệm quản lý và cơ chế tổ chức khai thác, vận hành. Trong đó xác định rõ quy trình, phương thức chuyển giao từ đơn vị xây dựng văn bản, chuyển đổi ngoại ngữ… đến nơi thẩm định trước khi chuyển vào CSDL. Để thuận lợi cho việc số hóa, phải xây dựng các chuẩn về nhân lực CNTT thực hiện các nhiệm vụ quản trị, vận hành, bảo trì; các chuẩn tạo lập nội dung số, chuẩn về lưu trữ nội dung số, chuẩn về trao đổi và bảo vệ bản quyền nội dung số. Trong điều kiện nhà nước chưa có chuẩn chung quốc gia, cần xây dựng và ban hành quy định tạm thời các chuẩn đó.

Tổ chức lại và từng bước hoàn thiện hệ thống các CSDL của ngành: Kho dữ liệu của ngành Tài chính là một trong những CSDL quốc gia đầu tiên được xây dựng và vận hành theo Đề án 112 trước đây, mà đến nay vẫn được duy trì và phát triển. Hiện nó vẫn đang được xem như là một mắt xích quan trọng của hệ thống các ứng dụng CNTT của toàn ngành.

Theo chương trình ban đầu, kho dữ liệu bao gồm 16 CSDL chủ đề. Thực tế đến nay đã xây dựng được trên 10 CSDL chủ đề. Tuy nhiên, các CSDL chủ đề này cũng đã được điều chỉnh lại cho phù hợp với tiến độ và yêu cầu quản lý của nghiệp vụ chuyên môn. Mặc dù vậy, cũng có rất nhiều vấn đề đặt ra hiện nay đối với kho dữ liệu này như: Còn thiếu nhiều công cụ hỗ trợ cho việc tìm kiếm, khai thác và tổng hợp các dữ liệu đã tìm kiếm; tính tương thích với mọi loại hình thông tin và với các CSDL ngoài Bộ; công cụ hỗ trợ phân tích; thông tin thống nhất của hệ thống dữ liệu đã lưu; cập nhật theo tiến bộ của công nghệ; khả năng cập nhật thường xuyên; các chuẩn về lưu trữ thông tin, về bản quyền, về trao đổi thông tin dữ liệu,…

Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần thiết kế tổng thể lại toàn bộ hệ thống kho của toàn ngành Tài chính, đáp ứng đòi hỏi của sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật công nghệ thông tin, bởi yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn của chiến lược phát triển ngành Tài chính đến năm 2020, và cũng bởi yêu cầu của chương trình tổng thể hiện đại hóa ngành đến năm 2020.

Đây là một bài toán lớn, đòi hởi cần tư vấn (thậm chí tư vấn quốc tế mới có thể giải quyết được). Song muốn  nhờ được tư vấn đòi hỏi trước hết tự chúng ta phải định hướng và định hình một khuôn mẫu để làm đầu bài cho nhu cầu tư vấn xây dựng kho dữ liệu ngành Tài chính đến năm 2020.

Trước hết là về mô hình tổ chức và quy mô tập trung hay phân tán? Đám mây hay không, nếu có đến mức nào? Triển vọng hạ tầng truyền thông quốc gia, kể cả tiềm năng từ các vệ tinh mà nước ta đã phóng lên vũ trụ. Hệ thống back up và DRC cũng nên đặt vấn đề thuê ngoài hay một phần hay tự ngành, tất cả phải hòa chung trong xu thế của hệ thống quốc gia….? Theo Chiến lược phát triển ngành Tài chính đến năm 2020, cùng các chiến lược phát triển các ngành Thuế, Kho bạc, Hải quan, Dự trữ, Chứng khoán… đã được duyệt, sẽ tiếp tục có bao nhiêu dự án lớn về ứng dụng CNTT tiếp tục đặt ra và nghiã là sẽ còn tạo ra tiếp những CSDL mới? Xu thế internet di động sẽ có nhu cầu xử lý đầu ra đồi với các Kho dữ liệu của toàn ngành và đòi hỏi tính thống nhất để phối hợp kết nối với hệ thống các CSDL quốc gia khác của chính phủ. Mức độ mở về yếu tố này luôn gắn liền với các đòi hỏi về chiến lược quốc gia và của ngành về tính chất mật của thông tin và khả năng an toàn bảo mật của hệ thống…

Đồng thời, cần có sớm các quy định về các chuẩn mực để xây dựng và vận hành, tổ chức khai thác các CSDL. Hiện nay chúng ta có rất nhiều ứng dụng viết trên nhiều nền tảng khác nhau. Các chuẩn sẽ tạo điều kiện để xây dựng các điều kiện đáp ứng cung cấp, cập nhật và trao đổi thông tin giữa các CSDL, trước hết cho bản thân ngành Tài chính. Cùng với việc nghiên cứu ban hành các chuẩn là nghiên cứu ban hành các cơ chế về  tổ chức quản lý và vận hành trên cơ sở phân định rõ việc về quản lý dữ liệu và về quản trị CSDL.

Hoàn thiện hệ thống Cổng thông tin điện tử (Cổng TTĐT) Bộ Tài chính: Cổng TTĐT Bộ Tài chính đã hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động, vận hành chính thức tại địa chỉ www.mof.gov.vn từ ngày 24/2/2011(thay thế cho trang thông tin Bộ Tài chính trên internet vận hành từ năm 2001).

Cổng TTĐT Bộ Tài chính đã được xây dựng với đầy đủ tính năng đặc trưng của công nghệ cổng thông tin điện tử (công nghệ Portal của Hãng Oracle), sẵn sàng trong việc tích hợp các kênh thông tin, ứng dụng và dịch vụ tài chính công của Bộ Tài chính và của các đơn vị trực thuộc.

Trên Cổng TTĐT Bộ Tài chính đã có 28 chuyên mục, 8 chuyên trang lưu trữ tương đối đầy đủ các kênh thông tin từ các vụ, cục thuộc Bộ Tài chính giúp cho công tác quản lý nhà nước của bộ cũng như cung cấp công khai minh bạch và kịp thời cho người dân, doang nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước (WB, IMF...). Đã tích hợp với CSDL văn bản pháp quy thuộc Bộ Tài chính hỗ trợ việc tìm kiếm, khai thác các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài chính trên cả tiếng Việt và tiếng Anh.

Bộ Tài chính cũng đã ban hành được Quyết định số 3241/QĐ-BTC Quy định về chức năng và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho các cổng thông tin điện tử ngành Tài chính và Quyết định số 2013/QĐ-BTC ngày 13 tháng 8 năm 2012 về việc ban hành quy chế cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên Cổng TTĐT Bộ Tài chính và trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính.

Ngoài CSDL bộ thủ tục hành chính của ngành, Cổng TTĐT Bộ Tài chính đã cung cấp 12 dịch vụ công trực tuyến gồm: Thuế thu nhập cá nhân (TNCN online); quản lý đăng ký tài sản; cấp mã số; tư vấn hải quan trực tuyến; tra cứu biểu thuế hàng hóa HS; tra cứu trạng thái nợ thuế; tra cứu tờ khai chuyển cửa khẩu; thanh tra xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại – tố cáo; hướng dẫn tờ khai thuế; tra cứu thông tin về người nộp thuế; nộp hồ sơ khai thuế qua mạng; tra cứu hóa đơn.

Vừa qua, Bộ Tài chính cũng đã ban hành 2 quyết định quan trọng để tiếp tục củng cố và phát triển Cổng TTĐT Bộ Tài chính đó là:  Quyết định số 933/QĐ-BTC ngày 6/5/2013 về việc ban hành Quy chế hoạt động của Cổng TTĐT của Bộ Tài chính và Quyết định số 1534/QĐ-BTC ngày 28/6/2013về việc ban hành định hướng xây dựng và phát triển Cổng TTĐT Bộ Tài chính đến năm 2020.

Vấn đề đặt ra trước hết là trong bản định hướng đó đã xác định những công việc lớn có thời gian hoàn thành, nay cần cụ thể hóa thành các nội dung công việc cụ thể cần làm từ nay đến năm 2020, từng việc có phân công cụ thể ai là gì và bao giờ xong. Từ đó trình bộ ban hành thành kê hoạch chi tiết tổ chức thực hiện định hướng Cổng TTĐT Bộ Tài chính đến năm 2020.

Trong việc cụ thể hóa định hướng cổng về mặt công nghệ có 2 nội dung cần được đặc biệt chú trọng: Xây dựng bộ chuẩn hóa công nghệ có tính đến các tiềm năng về tiến bộ công nghệ thông tin trong thời gian tới, đảm bảo không chỉ tích hợp toàn bộ hệ thống cổng toàn ngành từ trung ương xuống địa phương mà còn phải tích hợp được toàn quốc theo định hướng của chính phủ. Xây dựng bộ chuẩn hóa về giao diện người dùng, bao gồm không chỉ giao diện thông dụng, mà phải gồm cả giao diện phục vụ truy cập bằng các thiết bị di động cầm tay và giao diện phục vụ hỗ trợ ngươi khuyết tật.

Định hướng cổng về mặt công nghệ cũng cần được xây dựng “mở” sao cho thuận tiện cho việc cập nhật công nghệ cổng và công nghệ đã xây dựng hệ thống các dịch vụ công trên đó không ảnh hưởng tới người sử dụng các dịch vụ công.

Vừa qua, Bộ Tài chính đã ban hành quy chế hoạt động của cổng TTĐT, vấn đề tiếp là cần có những hướng dẫn cụ thể về phối hợp trong tổ chức xây dựng và xét duyệt những công việc đã quy định theo quy chế này và theo mô hình phân cấp trong định hướng cổng TTĐT của bộ, ngành đến năm 2020. Đi kèm với các hướng dẫn này sẽ là các hướng dẫn cụ thể quy định về chế độ tài chính trong tổ chức vận hành các cổng. Để hoàn thiện những quy định trong kiểm tra giám sát tình hình tổ chức xậy dựng và vận hành nhằm hạn chế thấp nhất những sai sót không chỉ đối với tổ chức xây dựng và vận hành mà cả đối với các thông tin đã được đăng tải và quy trính xử lý các trao đổi thông tin.

Cần có thêm một số điều kiện ràng buộc

Yếu tố đầu tiên và hết sức quan trọng, đó là an ninh thông tin và bảo mật hệ thống. Trong thực tế thời gian qua, không ít các cuộc hack, tấn công của các hack, thậm chí chỉ là những thông tin dò rỉ đã tạo ra những sóng gió không phải chỉ ở một tập đoàn, mà gây cả những khó khăn đối với cả một quốc gia. Vì thế, các giải pháp về an toàn bảo mật thông tin, trong điều kiện mở rộng trao đổi thông tin, tăng khả năng truy cập phục vụ công dân là vô cùng cấp thiết và không hề đơn giản.

Trong tình hình phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay, trong thiết kế tổng thể cần phải có những tính toán tương xứng ở cả 3 nội dung cần quan tâm là: Bảo mật (chống virus, gián điệp, hacker…); dự phòng sự cố (tai hoạ thiên nhiên: động đất…; mất điện; máy lưu trữ thông tin hỏng…) và an ninh thông tin (quy trình và giải pháp để bảo mật thông tin dữ liệu, chống thông tin giả, rò rỉ thông tin...).

Hiện nay, các vấn đề bảo mật, an ninh mạng và trung tâm dự phòng thảm hoạ cũng đã thường xuyên được đặt ra. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ là phải tạo thành ý thức thường xuyên từ khâu cung cấp đến khâu khai thác và công bố thông tin. Các giải pháp công nghệ được sử dụng phải có sự thống nhất đồng bộ để đảm bảo vận hành thông suốt của hệ thống các CSDL, không chỉ ở khâu xử lý dữ liệu vào, mà cả đến môi trường cho người khai thác. Bởi trong thực tế các bức tường lửa đôi khi cũng gây khó khăn cho người khai thác - những người chủ yếu làm nghiệp vụ tài chính, vì với bản thân họ khả năng về công nghệ thông tin còn hạn chế.

Do cách tổ chức khai thác lâu nay là cho người khai thác truy cập và xử lý thông tin ngay trong môi trường chứa thông tin của CSDL; nên sau một thời gian, hầu hết dung lượng các máy chủ không còn nhiều chỗ cho người khai thác sau, dẫn đến những ách tắc và khó khăn không cần thiết. Thời gian qua, các nhà thiết kế tổng thể hệ thống CSDL quốc gia đa số cũng chỉ thường xuyên yêu cầu “phải kết nối được, liên thông được giữa các CSDL quốc gia”, mà ít quan tâm đến khối lượng lưu trữ để có lời khuyên “người sử dụng chỉ nên tải về máy cá nhân để thực hiện các công việc nghiên cứu của mình”.

Vì thế về mặt kỹ thuật sẽ phải tổ chức và xây dựng môi trường khai thác riêng, hạn chế tối đa việc khai thác trực tiếp trên môi trương máy chủ ghi các dữ liệu của các CSDL. Khi cần thực hiện các bài toán phức tạp, sẽ dùng sự hỗ trợ là các môi trường của trung tâm CSDL để giải quyết. Nhưng để thực hiện được, cần phải xây dựng và quy định ngay trong quy chế vận hành và tổ chức khai thác CSDL.

Trong xu thế hiện nay, sử dụng các thiết bị đầu cuối là các thiết bị di động để truy cập, chia sẻ thông tin… là nhu cầu tất yếu và cần thiết. Nhưng lâu nay, các phần mềm được xây dựng để thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn không phải là thuần nhất và không phải điều kiện đáp ứng yêu cầu đa dạng thiết bị đầu cuối lúc nào cũng được gắn với bài toán xây dựng phần mềm đó. Mặt khác, hệ thống các cơ sở dữ liệu hiện nay và trong thời gian tới sẽ được xây dựng cũng cần có những quy chuẩn thống nhất để các loại thiết bị này có thể truy cập và trao đổi thông tin với nhau…

Vấn đề được đặt ra là: Cần xác định một tập, một bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật CNTT như thế nào (cả về phần cứng và phân mềm) để có thể tạo ra đáp ứng chung đối với mọi loại hình phương tiện và các loại phần mềm ấy, đặc biệt là phục vụ các hoạt động nghiên cứu và phục vụ phân tích dự báo, cảnh báo trong mọi tình huống? Cần chuẩn hóa những nội dung chuyên môn được thể hiện trên cổng để tạo ra giao diện phục vụ cho nhu cầu này – đây là việc thuộc lĩnh vực của chuyên môn nghiệp vụ.

(Phạm Công Minh)