Không có Chính phủ điện tử nếu chỉ đi bằng một chân

Hiện 30% người dân dùng dịch vụ internet, trong đó rất nhiều người đã dùng dịch vụ công trực tuyến được các cơ quan công quyền cung cấp. Tuy nhiên, trong số 30% người dùng internet ấy đa phần là công nhân viên chức, sinh viên, chúng ta chưa có được tầng lớp nhân dân điện tử đúng nghĩa. Đó là chia sẻ của các diễn giả tại tọa đàm bàn tròn trong khuôn khổ Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử diễn ra cuối tháng 8, tại Hà Nội.

Không có Chính phủ điện tử nếu chỉ đi bằng một chân

Không sợ CNTT, nhưng sợ minh bạch hóa

Theo ông Lê Mạnh Hà, Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh, hiện nay chúng ta xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT) trên cơ sở tiến hành song song 2 nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính (gọi tắt là CCHC) và ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước. Với 2 Ban chỉ đạo độc lập, có nhiều luồng ý kiến cho rằng cần tiến hành song song 2 quá trình, có ý kiến cho rằng cần ứng dụng CNTT trước để làm tiền đề, có luồng ý kiến lại cho rằng cần phải CCHC trước rồi mới có thể đưa CNTT vào vận hành. Tuy nhiên, ông Hà nhận định chúng ta nên gộp 2 Ban chỉ đạo này, bởi CPĐT không thể đi bằng một chân vì hai nhiệm vụ phải tiến hành đồng thời và hỗ trợ nhau.

Thực tế, không mấy ai sợ CNTT vì nhiều cán bộ cơ quan nhà nước nói rằng không ứng dụng CNTT cũng… chẳng chết. Nhưng nếu minh bạch hóa và đẩy mạnh CCHC thì sẽ để lộ các điểm yếu của cơ quan công quyền và họ rất sợ “lộ gót chân Asin” và sai phạm của họ. Trong khi đó, CNTT giúp việc minh bạch hóa các chính sách, đưa dịch vụ công đến gần người dân hơn và đặc biệt người dân có kênh giám sát “công bộc” của mình. Nói cho cùng, dịch vụ công cũng phải được coi như bất cứ dịch vụ nào. Người dân bỏ tiền mua dịch vụ (thông qua đóng thuế và phí giao dịch) sẽ phải được thụ hưởng những quyền lợi tương xứng và mức độ hài lòng khi giao dịch với chính quyền (nơi cung cấp các dịch công cho người dân và doanh nghiệp).

Lí giải việc tại sao phải đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào CCHC, ông Hà dẫn chứng: Bệnh thành tích ở Việt Nam rất đáng lên án. Nhưng xét theo một góc độ nào đó, nó lại góp phấn thúc “ép” các cán bộ công quyền phải thực thi cho được nhiệm vụ được giao theo yêu cầu của cấp trên. Tuy nhiên, nói gì thì nói tiền bạc vẫn phải đi đầu và sự quan tâm đúng mức của người lãnh đạo các địa phương đến ứng dụng CNTT cũng cần lưu ý, không cấp tiền cho ứng dụng CNTT thì cũng sẽ không thể CCHC nhanh được.

Ông Thái Vĩnh Liệu, Phó Bí thư tỉnh Quảng Trị cho rằng: Lãnh đạo quyết tâm là được, nếu lãnh đạo không hăng hái thì ứng dụng CNTT khó thành hiện thực, chưa nói gì đến CCHC. Hiện tỉnh Quảng Trị đứng 32/63 tỉnh thành về mức độ ứng dụng CNTT, một thành tích không quá tệ với một tỉnh nghèo, ngân sách chi cho CNTT còn nhiều hạn chế so với các địa phương khác.

CNTT đã góp phần minh bạch hóa các thủ tục hành chính, đưa đến cho doanh nghiệp và người dân nhiều dịch vụ công, đồng thời cũng là kênh phản biện hữu hiệu đón nhận những ý kiến đóng góp trong quá trình điện tử hóa các quy trình nghiệp vụ của cơ quan nhà nước, xây dựng CPĐT thống nhất. Bản thân các “công bộc” không sợ CNTT, nhưng khi phải minh bạch hóa nghiệp vụ và trách nhiệm của mình trong thực thi công vụ và chịu giám sát của người dân, thì ý thức làm việc của các cán bộ công quyền cũng vì đó mà được nâng cao, hạn chế được sự phiền hà, nhũng nhiễu vốn là nỗi nhức nhối của xã hội như thời gian qua…

Cần tránh chồng chéo trong ứng dụng CNTT

Trở lại câu chuyện minh bạch hóa, trong thời gian qua rất nhiều địa phương đã “vượt rào” khi đẩy mạnh triển khai ứng dụng CNTT, đặc biệt là ứng dụng các phần mềm quản lý nghiệp vụ của địa phương mình. Tuy nhiên, khi đã triển khai ngon lành thì lại nhận được những chỉ thị từ trung ương và các bộ, ngành, bắt tạm dừng hoạt động với lí do không phù hợp với quy hoạch chung. Đơn cử như Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu dừng phần mềm đăng ký kinh doanh trực tuyến tại TP. Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh sau hơn 10 năm triển khai và phải thực hiện theo phần mềm chuẩn chung. Bộ Giáo dục và Đào tạo không cho các địa phương dùng các phần mềm giáo dục không phải do Bộ này cung cấp. Có thể nói đã có sự không đồng bộ giữa trung ương và địa phương khiến việc triển khai ứng dụng CNTT tại nhiều nơi, nhiều lúc gặp vướng mắc.

Tuy nhiên, nhìn nhận sự “phá hoại” này (nói theo cách của ông Lê Mạnh Hà, Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh) theo góc độ trực quan cũng đúng. Nhưng ở một khía cạnh khác, sự quản lý thống nhất việc ứng dụng CNTT trên cả nước cần có sự thống nhất, tránh đầu tư chồng chéo, lãng phí cũng là câu chuyện không mới và sẽ còn phải bàn nhiều. Bởi thực tế, những địa phương “xé rào” triển khai phần mềm điều hành quản lý, đều là những tỉnh có yêu cầu cấp bách đối với các nghiệp vụ của mình và cũng là địa phương bố trí được ngân sách hoặc lãnh đạo dám làm. Trong khi mặt bằng chung những tỉnh khó khăn, khi chưa có sự chỉ đạo, rót vốn hay kế hoạch từ trung ương thì họ cũng chỉ biết… chờ đợi. Bởi nếu lại mày mò thực hiện, không chừng khi làm xong lại phải bỏ để theo chuẩn mới thì lúc đó cũng không biết kêu ai.

Hiểu thế nào về các chỉ số hài lòng về dịch vụ công?

Cũng tại tọa đàm, các đại biểu có nhắc nhiều đến mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công trực tuyến được cung cấp hiện nay. Thực tế, theo ông Phạm Minh Hùng, Vụ CCHC (Bộ Nội vụ), chúng ta chưa có cuộc khảo sát tổng thể nào về mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với dịch vụ công trực tuyến do cơ quan nhà nước cung cấp. Trong khi đó những cuộc khảo sát chuyên đề như của IDG đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp FDI được báo cáo tại Hội thảo Vietnam Finance 2013 cũng bước đầu cho chúng ta có cái nhìn một phần. Theo ông Lê Mạnh Hà, hiện các chỉ số đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ công vẫn còn đang tranh cãi, tuy nhiên tựu chung có thể xoay quanh 2 nhóm chỉ tiêu: số lượng dịch vụ công và cách thức cung cấp dịch vụ.

Với số lượng dịch vụ công, chúng ta đang đẩy mạnh điện tử hóa các dịch vụ công trực tuyến. Dù bất kì dịch vụ nào, người dân mong muốn càng ít giấy tờ càng tốt, càng ít thủ tục càng tốt. Trong khi với cách thức cung cấp dịch vụ, người dân mong đợi sự thuận tiện khi giao dịch, tránh nhũng nhiễu phiền hà và đặc biệt là thời gian trả hồ sơ phải đúng hạn. Đơn cử, nếu thời hạn cấp giấy đăng ký kinh doanh sau 15 ngày phải có, nhưng cán bộ xử lý mất tới 2-3 tháng và hẹn đi hẹn lại thời gian trả kết quả thì doanh nghiệp cũng chán. Có thể kéo dài thời hạn trả kết quả so với thực tế yêu cầu, nhưng khi đã hẹn là phải hoàn thành để doanh nghiệp chủ động sắp sếp kế hoạch kinh doanh, chuẩn bị vốn và nhân lực cho sản xuất thay vì chờ đợi và bị trễ hẹn.

Chia sẻ thêm về sự hài lòng, ông Phạm Kim Sơn, Giám đốc  Sở Thông tin và Truyền thông TP. Đà Nẵng chia sẻ, trước đây Đà Nẵng cũng thăm dò ý kiến người dân về mức độ hài lòng đối với cơ quan công quyền, nhưng khảo sát được tiến hành bằng lấy phiếu tín nhiệm. Do phiếu được các phòng, ban điều tra nên người dân, doanh nghiệp phải nộp lại cho chính đơn vị đang khảo sát khiến họ ngại “nói xấu” đơn vị đang làm thủ tục hành chính cho mình khiến kết quả không như mong đợi. Từ khi thành phố tiến hành lấy phiếu tín nhiệm online, kết quả phản ánh của người dân đã chân thực hơn, góp phần giúp thành phố nhanh chóng chấn chỉnh những sai phạm ủa các đơn vị, nâng cao hình ảnh chính quyền đô thị và đã tạo được niềm tin nơi người dân.

Xin lấy những lời chia sẻ của ông Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông thay lời kết: Không có CPĐT nếu không có công dân điện tử. Dù cơ quan công quyền có triển khai nhiều dịch vụ công đến đâu, nếu người dân không vào cuộc trực tiếp ứng dụng và phản biện; chính quyền cơ sở không vào cuộc mạnh mẽ, lãnh đạo địa phương không là đầu tàu quyết tâm thì kết quả cũng bằng không!

(Nam Phương)