Sửa đổi Nghị định 59 đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa

Ngày 17/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015. Một trong những giải pháp đề ra là thực hiện cho được mục tiêu sắp xếp, cổ phần hóa DNNN theo các phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Chính vì vậy, việc thực hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hóa doanh nghiệp (CPHDN) và đảm bảo triển khai theo đúng lộ trình là rất cần thiết. Tuy nhiên, thời gian qua việc thực hiện Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp (DN) 100% vốn nhà nước, thành công ty cổ phần đã phát sinh một số vấn đề vướng mắc.

Tiến trình CPH chậm trễ là do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Ảnh minh họa - nguồn internet.Tiến trình CPH chậm trễ là do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Ảnh minh họa - nguồn internet.

Phóng viên Tạp chí Tài chính điện tử - eFinance đã cuộc trao đổi với ông Phạm Hải An, Phó trưởng Phòng Đổi mới sắp xếp và Phát triển doanh nghiệp, Cục Tài chính Doanh nghiệp (Bộ Tài chính) về vấn đề này.

PV: Hiện nay, các DNNN đang thực hiện cổ phần hóa theo quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP. Xin ông cho biết tình hình triển khai CPH theo tinh thần của Nghị định 59?

Ông Phạm Hải An: Ngày 05/9/2011, Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần chính thức có hiệu lực thi hành. Để triển khai Nghị định số 59, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 202/2011/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị DN khi thực hiện cổ phần hóa và Thông tư số 196/2011/TT-BTC hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa để các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước triển khai thực hiện. Tính đến nay, qua 02 năm thực hiện, có thể thấy nghị định này và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với công tác cổ phần hóa DNNN, khắc phục những vướng mắc chủ yếu của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP trước đây.

Mặc dù vậy, thời gian vừa qua, số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP còn ít, tiến trình cổ phần hóa DNNN vẫn còn chậm trễ.

PV: Thưa ông, vậy phải chăng nguyên nhân chậm là từ những vướng mắc phát sinh khi Nghị định số 59 đi vào cuộc sống?

Ông Phạm Hải An: Tiến trình CPH chậm trễ là do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.  Và những vướng mắc phát sinh của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP chỉ là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến độ cổ phần hóa DNNN.

Thời gian qua, kinh tế thế giới có nhiều biến động và Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động đó. Thị trường tài chính cũng như thị trường chứng khoán trong nước phục hồi chậm do chịu sự tác động của kinh tế thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước.

Bên cạnh đó, các DNNN đang tiến hành xây dựng và triển khai Đề án tái cơ cấu theo Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nên cũng dẫn tới chậm triển khai kế hoạch sắp xếp, cổ phần hóa. Ngoài ra, một số đơn vị vẫn còn chưa quyết liệt tổ chức triển khai…

PV: Được biết, Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, trong đó bao gồm cả vấn đề vướng mắc liên quan đến việc xác định giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, đối chiếu công nợ…. Xin ông có thể nói rõ hơn về hướng sửa đổi, bổ sung lần này?

Ông Phạm Hải An: Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP. Dự thảo Nghị định sửa đổi lần này tập trung vào những vấn đề vướng mắc mà thời gian qua Bộ Tài chính đã tổng hợp từ ý kiến phản ánh của các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện như: quy định về tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị tư vấn định giá; xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp; đối chiếu công nợ khi xác định giá trị doanh nghiệp, đối tượng áp dụng Kiểm toán nhà nước…

Về xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ theo hướng quy định về nguyên tắc tất cả diện tích đất do doanh nghiệp cổ phần hóa đang quản lý, sử dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, phải chuyển sang thực hiện ký hợp đồng thuê đất có thời hạn với cơ quan có thẩm quyền (trừ những trường hợp đặc biệt thì có cơ chế xử lý cụ thể).

Theo đó, đối với diện tích đất đã giao cho doanh nghiệp, nay chuyển sang thuê thì giá trị quyền sử dụng đất giao còn lại tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xác định là số tiền doanh nghiệp đã trả trước tiền thuê đất, cho một khoảng thời gian nhất định theo mặt bằng giá thuê đất tại thời điểm doanh nghiệp hoàn tất thủ tục thuê đất với cơ quan quản lý tại địa phương; không ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Đối với diện tích đất doanh nghiệp thực hiện thuê đất thì thực hiện trả tiền thuê đất hàng năm, theo quy định hiện hành và không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý vì giá thuê đất đã sát giá thị trường.

Về vấn đề đối chiếu toàn bộ công nợ khi xác định giá trị doanh nghiệp, theo quy định thì doanh nghiệp cổ phần hóa phải tiến hành đối chiếu toàn bộ các khoản công nợ tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp; đồng thời có biện pháp xử lý dứt điểm các khoản công nợ không có khả năng thu hồi theo quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị định, một số tập đoàn, tổng công ty có phản ánh việc đối chiếu toàn bộ công nợ là khó khăn, thực tế chỉ đối chiếu được khoảng 60- 70%, do vậy quy định đối chiếu toàn bộ công nợ sẽ làm chậm tiến độ cổ phần hóa của doanh nghiệp.

Tại dự thảo Nghị định sửa đổi lần này, Bộ Tài chính đã kiến nghị Chính phủ xem xét điều chỉnh theo hướng: Giao các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chỉ đạo doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện đối chiếu toàn bộ các khoản công nợ (phải thu, phải trả) đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định.

Trong một số trường hợp do thời điểm cổ phần hóa không trùng với thời điểm kiểm kê khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính, doanh nghiệp quy mô lớn, đối tượng công nợ nhiều, không kịp đối chiếu hết thì doanh nghiệp cổ phần hóa phải báo cáo các bộ, địa phương xem xét, xử lý.

PV: Các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước sẽ được xử lý như thế nào, nếu các tập đoàn, tổng công ty này thực hiện cổ phần hóa?

Ông Phạm Hải An: Đây cũng là nội dung Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ bổ sung tại dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2011/NĐ-CP. Nếu các doanh nghiệp cổ phần hóa tiếp tục kế thừa, sẽ tổ chức định giá để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa. Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa không kế thừa, thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chuyển giao cho các bộ, ngành có liên quan để thực hiện xã hội hóa theo chủ trương chung của Đảng và Nhà nước.

Ví dụ, đối với các bệnh viện đề xuất giao Bộ Y tế tiếp quản; các trường đạo tạo nghề đề xuất giao Bộ Lao động Thương binh và Xã hội tiếp quản; các viện nghiên cứu đề xuất giao Bộ quản lý ngành kinh doanh chính tiếp quản... Trong thời gian chưa bàn giao thì giao Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh tiếp quản và thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại các đơn vị này.

PV: Việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 59/2011/NĐ-CP theo đánh giá của ông sẽ tác động thế nào đến tiến độ CPH trong thời gian tới?

Ông Phạm Hải An: Các nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2011/NĐ-CP Bộ Tài chính đã trình Chính phủ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện nhanh hơn việc xác định giá trị doanh nghiệp.

Ví dụ như: Điều chỉnh quy định một mức giá trị cụ thể đối với gói thầu tư vấn định giá để thực hiện chỉ định thầu, thay vì phải tổ chức đấu thầu nếu có từ 02 tổ chức tư vấn định giá trở lên đăng ký tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn định giá như trước. Hoặc (phải thu, phải trả) theo hướng: đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, trong một số trường hợp do thời điểm cổ phần hóa không trùng với thời điểm kiểm kê khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính, đối tượng công nợ nhiều, không kịp đối chiếu hết; doanh nghiệp cổ phần hóa phải báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét, xử lý, thay vì phải đảm bảo đối chiếu toàn bộ công nợ tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp… Như vậy, doanh nghiệp sẽ sớm hoàn tất phương án cổ phần hóa, thực hiện bán cổ phần lần đầu và chính thức chuyển thành công ty cổ phần.

Tuy nhiên, bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế cổ phần hóa và các cơ chế chính sách có liên quan, thì công tác tổ chức thực hiện cũng được xác định là rất quan trọng và cần được quan tâm thực hiện để đảm bảo tiến độ cổ phần hóa.

Cụ thể như: Cần tổ chức quán triệt tốt theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng, Kết luận của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới DNNN và Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện; đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa cần thực hiện tốt công tác chuẩn bị về hồ sơ, tài liệu pháp lý, phương án sử dụng đất sau cổ phần hóa, đối chiếu công nợ…để tiến hành các bước cổ phần hóa… như vậy, sẽ tác động tích cực đến tiến trình cổ phần hóa DNNN trong thời gian tới.

PV: Cổ phần hóa được đánh giá là một yếu tố then chốt trong việc tái cấu trúc DNNN. Vậy xin ông cho biết nhiệm vụ CPH DNNN trong giai đoạn tới?

Ông Phạm Hải An: Trong giai đoạn tới, công tác sắp xếp, cổ phần hóa sẽ gắn với việc thực hiện Đề án tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011- 2015 theo Quyết định số 929/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, DNNN sẽ tiếp tục thực hiện các hình thức sắp xếp, cổ phần hóa theo phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho giai đoạn 2011 – 2015 trên cơ sở tiêu chí, danh mục phân loại DNNN theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này, bên cạnh nỗ lực của bản thân doanh nghiệp thì cũng cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách về sắp xếp, cổ phần hóa cho phù hợp với thực tiễn triển khai, đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ với các cơ chế chính sách khác có liên quan. 

Xin cảm ơn ông!

(Thu Hằng thực hiện)