Sửa Luật Thuế thu nhập cá nhân: Đơn giản hóa thủ tục

Hiện nay, tại các nước tiên tiến, nhà nước quản lý người nộp thuế (NNT) bằng cơ sở dữ liệu lịch sử của cơ quan thuế. Chính nhờ cách quản lý này nên các thủ tục hành chính thuế đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được giảm thiểu tối đa, tạo điều kiện thuận lợi cho NNT thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Cá nhân NNT sẽ không phải thực hiện bất cứ thủ tục gì, mà các việc quản lý, quyết toán thuế hầu như do cơ quan thuế chủ động xử lý, dựa trên cơ sở dữ liệu của ngành Thuế cũng như toàn quốc.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Đây cũng sẽ là hướng đi mới của ngành Thuế đến năm 2020 với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính. Điều này được thể hiện rõ nhất trong Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN tập trung ở một số nội dung sau:

Sửa đổi, bổ sung về đối tượng nộp thuế: Sửa đổi điều kiện xác định cá nhân cư trú tại Việt Nam đối với người nước ngoài có nhà thuê để ở tại Việt Nam. Theo đó, tăng thời hạn thuê nhà để ở theo hợp đồng thuê từ 90 ngày lên 183 ngày. Việc xác định số ngày thuê nhà căn cứ vào các hợp đồng thuê kể cả trường hợp hợp đồng thuê nhà được ký trước 01/7/2013. Việc sửa đổi này đã giảm thủ tục hành chính, phiền phức cho người nộp thuế đơn giản trong quản lý thuế và phù hợp với thông lệ quốc tệ, nguyên tắc chung về luật cư trú.

Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn: Áp dụng thống nhất chính sách thuế đổi với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, không phân biệt cổ phần của công ty đại chúng hay công ty chưa phải công ty đại chúng như trước đây.

Cấp mã số thuế (MST) cho người phụ thuộc (NPT): Việc cấp MST cho NPT được thực hiện theo hướng đơn giản, do cơ quan thuế tự động cấp dựa trên thông tin có sẵn tại hồ sơ đăng ký giảm trừ gia cảnh; không yêu cầu NNT phải cung cấp thêm bất cứ thông tin nào khác, không làm tăng thủ tục về hồ sơ cũng như thủ tục kê khai thuế, không gây phiền hà cho NNT, không làm ảnh hưởng đến việc giảm trừ gia cảnh đối với NPT đã đăng ký giảm trừ gia cảnh trước ngày 1/7/2013. Đây chính là điểm nổi bật của Luật sửa đổi lần này.

Thời gian qua, cơ quan thuế đã cấp hơn 20 triệu MST, nên đối với NPT thì số lượng MST cũng phải tương đương. Việc cấp MST cho NPT được xác định là sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, tuy nhiên sẽ không dài như khoảng thời gian cấp MST cho NNT, bởi hiện nay ngành Thuế đã tăng cường cơ sở hạ tầng, cùng những ứng dụng thông tin hiện đại.

Theo dự kiến, trong khoảng giữa năm 2014, ngành Thuế sẽ cố gắng hoàn thành để phục vụ cho việc sử dụng dữ liệu NNT cho mùa quyết toán năm 2013. Bà Tạ Phương Lan, Phó Vụ trưởng, Vụ Thuế Thu nhập cá nhân (Tổng cục Thuế) cho biết: “Trước đây cấp MST cho NNT tiến hành dần trong 4 năm, nhưng hiện cơ quan thuế phải cấp cho cùng một lúc cho khoảng 20 triệu MST cho NPT, dĩ nhiên cơ quan thuế sẽ rất vất vả trong việc huy động nguồn lực như thời gian, thuê thêm đơn vị bên ngoài để nhập dữ liệu…”

Để hoàn thành được kế hoạch đã đề ra, cơ quan thuế cũng đã có kế hoạch phối hợp với các tổ chức chi trả thu nhập trong việc hỗ trợ trong việc cấp MST cho NPT. Các tổ chức chi trả thu nhập sẽ được yêu cầu cung cấp thông tin tổng hợp về dữ liệu của NPT tại đơn vị của mình dưới hình thức gửi online để giảm bớt phần gánh nặng cho cơ quan thuế. Ngược lại cơ quan thuế cũng sẽ hỗ trợ các DN ứng dụng hỗ trợ để cho các tổ chức chi trả thu nhập có thể thực hiện công việc này một cách đơn giản nhất.

Khấu trừ thuế đối với người nước ngoài: Đây là nội dung người nước ngoài gặp nhiều vướng mắc trong thời gian vừa qua. Việc khấu trừ thuế đối với cá nhân nước ngoài đến Việt Nam làm việc trước đây không có hướng dẫn cụ thể, dẫn đến chưa thống nhất trong việc thực hiện (có tổ chức thì tự khấu trừ theo biểu thuế suất từng phần, có tổ chức thì khấu trừ theo biểu thuế suất toàn phần). Tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC đã hướng dẫn rất rõ ràng theo thông lệ quốc tế. Cụ thể, thông tư đã bổ sung hướng dẫn các trường hợp cụ thể để áp dụng biểu thuế lũy tiến hoặc toàn phần để khâu trừ thuế đối với cá nhân người nước ngoài; do đó đã xác định khá chính xác số thuế phải nộp khi phát sinh, giảm các trường hợp phải quyết toán thuế, hoàn thuế vào cuối năm.

Khấu trừ thuế đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng hay còn gọi là thuế thu nhập vãng lai: Luật sửa đổi nâng mức ngưỡng trả thu nhập phải khấu trừ thuế từ 1 triệu đồng lên 2 triệu đồng/lần đối với cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng (không phân biệt cá nhân có hay chưa có MST) áp dụng từ 1/7/2013, việc sửa đổi này nhằm tạo thuận lợi cho tổ chức trả thu nhập khi khấu trừ do mức khấu trừ thống nhất, đồng thời sẽ giảm số lượng cá nhân làm thủ tục hoàn thuế TNCN do đã bị khấu trừ (10%) lớn hơn số thuế phải nộp trong năm.

Cấp chứng từ khấu trừ thuế: Để không làm tăng thủ tục cho tổ chức trả thu nhập khi cấp chứng từ khấu trừ cũng như NNT trong việc lưu giữ chứng từ khấu trừ thuế, Thông tư số 111/2013/TT-BTC bổ sung hướng dẫn việc cấp chứng từ đối với một số trường hợp cụ thể phù hợp với thực tế của đối tượng phát sinh khấu trừ thuế nhiều lần trong năm và 1 lần trong năm. Cụ thể, đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng: cá nhân có quyền yêu cầu đơn vị chi trả cấp chứng từ khấu trừ cho mỗi lần khấu trừ thuế hoặc cấp chứng từ khấu trừ cho nhiều lần khấu trừ thuế trong một kỳ tính thuế; đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên: tổ chức trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân một chứng từ khấu trừ trong một kỳ tính thuế.

Khai thuế: Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn một số nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN như:

-         Giảm tần suất khai thuế TNCN đối với cá nhân và tổ chức trả thu nhập: Đối với cá nhân được khai thuế thì chỉ phải khai thuế theo quý thay vì khai thuế theo từng tháng như trước 1/7. Đối với tổ chức trả thu nhập, nâng mức điều kiện phải khai thuế theo từng tháng từ 5 triệu đồng lên 50 triệu đồng/tháng; đồng thời bổ sung quy định nếu tổ chức chi trả thuộc diện khai thuế GTGT theo quý thì đương nhiên thuộc diện khai thuế TNCN theo quý, không phân biệt số thuế TNCN khấu trừ trong tháng trên 50 triệu đồng hay là dưới 50 triệu đồng.

-         Sửa đổi bổ sung hướng dẫn khai thuế đối với một số đối tượng đáp ứng một số thay đổi về chính sách thuế TNCN từ 1/7/2013.

-         Sửa đổi, bổ sung các hướng dẫn về nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế và trách nhiệm của cơ quan quyết toán thuế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho NNT, tránh chồng chéo giữa các cơ quan thuế để không gây ách tắc về việc quyết toán thuế TNCN như đã xảy ra trong những năm trước đây. Hướng dẫn thống nhất khai các loại thuế TNCN, GTGT và một số loại thuế khác đối với hộ khoán theo hướng gộp chung 3 mẫu trước đây thành 1 mẫu. Điều này giảm thủ tục cho hộ khoán rất nhiều khi mà kê khai thuế khoán từ đầu năm.

-         Thủ tục đăng ký với NPT: Đối với những hộ kinh doanh nộp thuế doanh thu khác kê khai đã giảm tần suất kê khai NPT. Trước đây phải khai phụ lục của từng quý và quyết toán vào cuối năm thì từ 1/7/2013 chỉ khai 1 lần, đăng ký 1 lần duy nhất trong suốt thời gian tính giảm trừ gia cảnh cho NPT đó. Đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công cũng đã giảm tần suất phải đăng ký giảm trừ cho NPT, trước đây là hàng năm, từ đầu năm phải đăng ký thì từ 1/7, chỉ đăng ký 1 lần duy nhất trong quá trình giảm trừ gia cảnh cho NPT, cho đến khi có sự tăng giảm NPT thì mới phải đăng ký lại. Với hồ sơ chứng minh NPT, sửa đổi những quy định là phải làm bản sao hồ sơ theo quy định trước đây từ 1/7, các giấy tờ này trong hồ sơ chỉ cần là bản chụp. Việc này đã giảm rất nhiều thời gian cũng như chi phí tài chính cho NNT khi hoàn thiện các hồ sơ chứng minh NPT.

Quyết toán thuế: Thực tế quản lý cho thấy, cá nhân kinh doanh chưa thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán số thuế nộp nhỏ nhưng vẫn phải quyết toán thuế; cá nhân có nguồn thu nhập thường xuyên ổn định từ tiền lương, tiền công mà có phát sinh thêm khoản thu nhập từ nguồn khác ở mức không quá 10 triệu đồng/tháng, hoặc có thu nhập từ cho thuê nhà, thuê quyền sử dụng đất có doanh thu bình quân tháng không quá 20 triệu đồng đã nộp thuế khấu trừ, nộp khoán hoặc kê khai tại nơi phát sinh thu nhập nhưng cuối năm vẫn phải cộng tất cả các nguồn thu nhập để thực hiện quyết toán thuế, làm tăng thủ tục phức tạp, phiền hà cho NNT.  

Để giảm bớt thủ tục hành chính, giảm khối lượng quyết toán thuế không cần thiết, tạo thuận lợi cho NNT, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP và Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn cụ thể 5 trường hợp không phải quyết toán thuế bao gồm:

- Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp và không yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau.

- Cá nhân, hộ kinh doanh chỉ có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán.

- Cá nhân, hộ gia đình chỉ có thu nhập từ cho thuê nhà, quyền sử dụng đất đã thực hiện nộp thuế theo kê khai và không có yêu cầu quyết toán thuế, kể cả trường hợp cá nhân có nhiều nhà cho thuê cùng một lúc.

- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một nơi mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 (mười) triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế tại nguồn nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên còn có thêm thu nhập từ cho thuê nhà, cho thuê quyền sử dụng đất có doanh thu bình quân tháng trong năm không quá 20 (hai mươi) triệu đồng đã nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê, nơi có quyến sử dụng đất cho thuê nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Hoàn thuế: Việc hoàn thuế được thực hiện theo hồ sơ quyết toán thuế, NNT không phải làm hồ sơ hoàn thuế để giảm bớt thủ tục cho NNT. NNT trực tiếp khai thuế với cơ quan thuế được lựa chọn hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào số thuế phát sinh kỳ sau để giảm trường hợp phải đến cơ quan thuế để hoàn thuế.

“Không nên lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế”

Đó là mong muốn của Bà Tạ Thị  Phương Lan, Phó Vụ trưởng, Vụ Thuế thu nhập cá nhân khi chia sẻ về việc tạm khấu trừ thuế của các doanh nghiệp.

Bà Lan cho biết: Trong thời gian qua, mặc dù chính sách của nhà nước cho phép cá nhân NNT cam kết chưa đến mức khấu trừ thuế TNCN với cơ quan thuế. Tuy nhiên, do tâm lý lo sợ cơ quan thuế phạt sau này, nên các doanh nghiệp vẫn yêu cầu khấu trừ 10-20% thu nhập vãng lai của NNT. Điều này là gánh nặng lớn cho cơ quan thuế nhất là trong thời điểm cuối năm khi nhận được hàng nghìn hồ sơ hoàn thuế.

Trong khi đó, để xác định hoàn thuế hay không, cơ quan thuế phải tổng hợp các thông tin thu nhập của cá nhân NNT trên toàn quốc, cũng như các khoản giảm trừ gia cảnh thực tế của cá nhân NNT thì cuối năm mới xác định được số thuế thu còn thừa hay thiếu. Việc tổng hợp thông tin đó còn nhiều khó khăn khi việc cấp  MST cho NPT mới đang dần tiến hành, chưa thể khép kín được vòng tròn quản lý thuế TNCN. Tổng cục Thuế chưa có được đầy đủ dữ liệu cụ thể cá nhân được hoàn thuế bao nhiêu một cách chính xác ngay, mà khi có yêu cầu và hồ sơ cụ thể thì cơ quan thuế sẽ căn cứ để xác minh và hoàn thuế. Áp lực giải quyết hồ sơ hoàn thuế đúng thời gian quy định của các cán bộ ngành Thuế sẽ là rất lớn.

Vì thế, Thông tư số 111/2013/TT-BTC đã hướng dẫn rõ ràng rằng trách nhiệm quản lý thu nhập của NNT là của các cơ quan thuế chứ không không phải của cơ quan chi trả, do đó nếu NNT cam kết thì cơ quan chi trả không được tạm khấu trừ. Các cơ quan chi trả chỉ cần có cam kết cá nhân theo mẫu tại Thông tư 111 thì sẽ không bị phạt.

“Để tránh việc khấu trừ thuế vô ích, lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế trong việc xử lý tiền khấu trừ, các cơ quan chi trả cần xem xét, không nên tùy tiện khấu trừ thuế từ thu nhập vãng lai của NNT…” - bà Lan nhấn mạnh.


(Thu Hằng)