Tại sao phải chạy thử VNACCS/VCIS?

Từ ngày 01/4/2014, hệ thống VNACCS/VCIS sẽ chính thức đi vào vận hành và để chuẩn bị cho việc vận hành chính thức hệ thống, Tổng cục Hải quan tổ chức chạy thử hệ thống VNACCS/VCIS trên phạm vi toàn quốc từ ngày 15/11/2013 đến ngày 15/02/2014. Vậy VNACCS/VCIS là gì và việc chạy thử hệ thống này có ý nghĩa gì đối với hải quan và doanh nghiệp? Tạp chí Tài chính điện tử (eFinance) đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Tùng, Cục trưởng Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan) xung quanh chủ đề này.

Ông Nguyễn Mạnh Tùng, Cục trưởng Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan).Ông Nguyễn Mạnh Tùng, Cục trưởng Cục CNTT và Thống kê hải quan (Tổng cục Hải quan).

PV/Được biết hệ thống tự động hóa thủ tục hải quan gọi tắt là VNACCS/VCIS sẽ triển khai chính thức từ ngày 01/4/2014, xin ông giới thiệu đôi nét về hệ thống này?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: VNACCS là viết tắt của Vietnam Automated Cargo And Port Consolidated System đây  là  hệ thống thông quan hàng hóa tự động mới của Hải quan Việt Nam. VCIS viết tắt của Vietnam Customs Intelligence Information System là  hệ thống thông tin tình báo hải quan phục vụ cho công tác quản lý rủi ro và giám sát nghiệp vụ của Hải quan Việt Nam.

VNACCS/VCIS được xây dựng trên nên công nghệ của hệ thống NACCS/CIS của Nhật Bản hiện đang áp dụng phục vụ thông quan hàng hóa và cơ chế một cửa tại Nhật Bản. Tại Nhật Bản hệ thống NACCS/CIS phục vụ cho khối tư nhân, cơ quan hải quan và các bên liên quan. NACCS giúp doanh nghiệp, các hãng vận tải khai báo, cơ quan chính phủ truy nhập vào hệ thống này để xử lý thông tin một cửa. Tại Nhật Bản họ hình thành Công ty NACCS để quản lý hệ thống này. Còn CIS là hệ thống của hải quan Nhật Bản xử lý các vấn đề tác nghiệp của hải quan.

Tương tự VNACCS/VCIS sử dụng công nghệ của Nhật Bản nên cũng áp dụng phân chia như vậy, nhưng điểm khác là VNACCS/VCIS đều do Hải quan Việt Nam quản lý, chưa có sự phân chia để tư nhân hóa quản lý hệ thống VNACCS. Hai hệ thống này có liên kết với nhau để xử lý một chuỗi nghiệp vụ.

Mặc dù VNACCS/VCIS dựa trên công nghệ Nhật Bản, nhưng khi đưa vào Việt Nam có sự tùy chỉnh đảm bảo phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Không phải NACCS/CIS có bất cứ chức năng nào cũng đều được đưa vào VNACCS/VCIS, có một số chức năng do điều kiện hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng được, nên chưa đưa vào giai đoạn này. Ví dụ như việc kết nối khối tư nhân thuộc các cơ quan kinh doanh hệ thống kho, bãi, cảng…, do sự sẵn sàng của các cơ quan tư nhân này tại Việt Nam chưa đáp ứng, nên chưa đưa vào giai đoạn này; thêm vào đó quy trình một cửa của Nhật Bản khác so với Việt Nam nên chưa đưa vào áp dụng giai đoạn này.

Trong giai đoạn đầu, VNACCS/VCIS phục vụ chủ yếu thông quan hàng hóa, trong đó tự động được một số khâu như: Khai báo hải quan; thanh toán điện tử; tự động hóa tiếp nhận xử lý thông tin của các hãng vận tải; tự động hóa khâu C/O gồm: khai báo điện tử (e-Declaration), manifest điện tử (e-Manifest), hoá đơn điện tử (e-Invoice), thanh toán điện tử (e-Payment) và C/O điện tử (e-C/O).  

Quan điểm thiết kế VNACCS trên nền của công nghệ Nhật Bản, nên hạn chế tối đa sự tùy chỉnh, nhằm đảm bảo áp dụng các phương thức, chuẩn mực quản lý của Nhật Bản. VCIS cũng vậy, hệ thống này giúp cho việc phân luồng, quản lý rủi ro, phân tích thông tin, quản lý các loại thông tin nghiệp vụ hải quan. Hệ thống này vận hành tập trung, cài đặt tại trung tâm quản lý vận hành hệ thống CNTT của hải quan, tất cả các máy đầu cuối của hải quan và doanh nghiệp truy nhập vào hệ thống này.

So với thủ tục hải quan điện tử (e-customs) hiện tại (xử lý phân tán, một phần nằm tại cục, một phần tại chi cục và một phần tại tổng cục), thì VNACCS/VCIS có tính tập trung hóa cao. VNACCS/VCIS gắn với việc áp dụng đầy đủ chữ ký số, hiện e-customs vừa áp dụng chữ ký số vừa áp dụng truy cập bằng tài khoản.

Theo cam kết của nhà thiết kế tốc độ xử lý, phản hồi của VNACCS/VCIS nhanh trong vòng 1-2 giây (nghĩa là tốc độ xử lý và phản hồi của hệ thống, không tính tới đường truyền, mạng), thực tế hệ thống NACCS/CIS của Nhật Bản phản hồi rất nhanh, đây là điểm ưu tiên trong thiết kế. Nghĩa là khi thiết kế họ ưu tiên tới độ an toàn, ổn định và tốc độ xử lý của hệ thống nhiều hơn là tính năng tiện dụng.

PV/Thưa ông, so với hệ thống e-customs hiện tại thì việc áp dụng hệ thống VNACCS/VCIS có lợi gì cho hải quan và doanh nghiệp và điểm khác biệt giữa hai hệ thống là gì?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: Khi đưa vào vận hành hệ thống này sẽ góp phần mang lại nhiều lợi ích hơn nữa cho người sử dụng gồm: người dân, doanh nghiệp và cả cơ quan hải quan. VNACCS được thiết kế để mở rộng (so với hiện nay) các thủ tục liên quan đến quy trình thủ tục hải quan như thủ tục đăng kí danh mục miễn thuế, thủ tục áp dụng chung cho cả hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch, thủ tục đơn giản đối với hàng trị giá thấp, quản lí hàng tạm nhập tái xuất… VNACCS cũng hoàn thiện chức năng tính thuế tự động bằng cách áp dụng việc đăng kí các chỉ tiêu dữ liệu; bổ sung phương thức nộp thuế thông qua ngân hàng hoặc bảo lãnh thuế thay bảo lãnh tự động trừ lùi, khôi phục tương ứng với số thuế đã nộp; rút ngắn thời gian làm thủ tục bằng cơ chế phân luồng tự động; tăng cường kết nối các bộ, ngành thông qua cơ chế một cửa quốc gia (NSW); hạn chế sử dụng hồ sơ giấy thông qua áp dụng chữ ký điện tử…

VNACCS sẽ có nhiều điểm mới, và thay đổi so với hệ thống thông quan điện tử đang áp dụng hiện nay. Cụ thể, về nghiệp vụ hiện chỉ áp dụng ở khâu thông quan nhưng trong VNACCS sẽ được áp dụng ở nhiều khâu khác nhau như quản lí hàng đi/đến tại cảng, manifest…; chỉ tiêu nhập dữ liệu ở VNACCS được tích hợp nhiều hơn các tiêu chí trên vận đơn (Invoice), bản lược khai hàng hóa (manifest) vào chỉ tiêu khai báo trên tờ khai, việc làm này giúp việc phần luồng tự động và rút ngắn thời gian thông quan.

Đặc biệt, nhiều nội dung mới sẽ được áp dụng trong VNACCS như lấy thông tin của dữ liệu đã đăng kí để khai báo xuất nhập khẩu; thực hiện đăng kí khai báo trước (khai báo tạm); mở rộng liên kết với các bộ ngành (trước mắt sử dụng nghiệp vụ trong VNACCS có thể liên kết với 6 bộ, ngành có nhiều liên quan mật thiết đến hoạt động XNK); thực hiện quản lí hàng tạm nhập tái xuất (hiện cơ chế quản lí được thực hiện bên ngoài hệ thống thông quan điện tử)…

PV/Tại sao Tổng cục Hải quan không nghĩ tới một phần mềm “đo ni đóng giày” dành riêng cho ngành, mà lại tiếp nhận phần mềm của Nhật Bản và để phù hợp với đặc thù của Việt Nam, VNACCS/VCIS được phép tùy chỉnh bao nhiêu %, thưa ông?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: Hệ thống nào cũng phải đáp ứng chuẩn mực của Hải quan Thế giới, trong cộng đồng hải quan thế giới có hàng loạt chuẩn mực, đặc biệt là chuẩn mực liên quan tới hài hòa quy trình thủ tục. Trên thế giới trừ một số nước lớn ví dụ như Mỹ tự xây dựng riêng phần mềm cho mình, còn lại cơ bản các nước đều sử dụng phần mềm đóng gói của các công ty phát triển hoặc sử dụng những phần mềm đã được áp dụng hiệu quả tại các nước phát triển. Khi áp dụng những phần mềm đã được chuẩn hóa và sử dụng thành công được chứng minh ở các nước phát triển, sẽ kế thừa được quy trình nghiệp vụ chuẩn hóa, tránh trong quá trình thiết kế đưa ra những quy trình không chuẩn. Thêm vào đó, về kinh phí xây dựng hệ thống từ đầu là rất lớn, mất nhiều thời gian và rủi ro về chất lượng.

Sử dụng NACCS/CIS của Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam rút ngắn thời gian về thủ tục hóa. Đây là lý do chúng tôi lựa chọn giải pháp của Nhật Bản đang được vận hành tốt trong thực tế. Quan điểm ban đầu của Bộ Tài chính là tối đa tùy chỉnh khoảng 15%, phần lớn các quy trình nghiệp vụ, chỉ tiêu thông tin của NACCS/CIS được đưa vào áp dụng và có bổ sung thêm một số chỉ tiêu thông tin của Việt Nam.

PV/Để triển khai thành công hệ thống VNACCS/VCIS ắt hẳn các quy trình nghiệp vụ, nhân lực và hạ tầng CNTT… của ngành phải thay đổi, thưa ông?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: Không chỉ có thay đổi về quy trình thủ tục mà khi áp dụng hệ thống này cũng có nhiều thay đổi liên quan đến CNTT; thay đổi về áp dụng quản lí rủi ro… để đáp ứng việc vận hành thông suốt của một hệ thống thông quan hiện đại như VNACCS/VCIS.

Về mặt công nghệ, hệ thống VNACCS/VCIS là tập trung nên chủ yếu liên quan tới hạ tầng mạng, đối với máy trạm và máy chủ thì cũng không có yêu cầu gì đặc biệt. Theo tôi vấn đề mạng mới là then chốt, vì đây là hệ thống tập trung nên cần đảm bảo tốc độ mạng ổn định, đủ băng thông, tính sẵn sàng cao, hệ thống mạng kết nối đầy đủ tới các điểm làm việc của hải quan.

Nếu đánh giá về thông số thì cơ bản hạ tầng mạng hiện tại đáp ứng thông số kỹ thuật mà hệ thống đòi hỏi, tuy nhiên để có kết quả đánh giá toàn diện, chính xác phải chờ quá trình chạy thử.

Đối với kiến trúc mạng chúng tôi đã có kiến nghị với Cục Tin học và Thống kê tài chính điều chỉnh để tập trung hóa hơn, trước đây hạ tầng mạng đi vòng từ trung tâm chi cục lên cục, rồi qua trung tâm tỉnh, tới trung tâm miền rồi mới lên trên. Chúng tôi đã thống nhất với Cục Tin học và Thống kê tài chính về mặt thiết kế làm sao tránh đi qua những nút thắt không cần thiết. Ngay trên hạ tầng cũng tính tới việc cấu hình lại để đường đi thẳng hơn.

Tuy nhiên việc kết nối mạng tại một số nơi như: biên giới, hay cảng có quá nhiều đầu ra của hàng hóa gặp một số khó khăn, nhưng do những nơi này không phải là điểm xử lý thông tin chính, do đó ngoài việc kết nối qua cáp đồng, cáp quang, thì chúng tôi vẫn duy trì kết nối qua VPN. Hầu hết tại các đơn vị địa phương việc kết nối mạng tương đối ổn. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý theo dõi hạ tầng mạng trong giai đoạn chạy thử, đặc biệt việc đảm bảo độ ổn định của mạng.

PV/Hiện tại, ngành Hải quan đang triển khai hệ thống e-customs, xin ông cho biết khi đưa VNACCS/VCIS vào hoạt động thì hệ thống e-customs sẽ được xử lý như thế nào?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: e-customs được thực hiện thí điểm từ năm 2005, mở rộng thí điểm năm 2009 và thực hiện chính thức từ ngày 01/01/2013, đến nay 31/9/2013, cả nước có 45.230 doanh nghiệp tham gia e-customs, chiếm 95% trong tổng số doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan. Trong 9 tháng qua, cả nước có 4,26 triệu tờ khai, trong đó 3,92 triệu tờ khai thực hiện e-customs, chiếm tỉ lệ 92%.

Chúng tôi sẽ đưa VNACCS/VCIS vào dần dần, những chức năng nào phục vụ cho thông quan mà VNACCS/VCIS có, thì sẽ không dùng của e-customs. Tuy nhiên, còn một số chức năng mà VNACCS/VCIS không có như: quản lý thanh khoản hàng gia công (vì Nhật Bản họ không có loại hình này), quản lý định mức… vẫn sử dụng e-customs hiện có. Sau khi triển khai VNACCS/VCIS rộng trên toàn quốc thì e-customs sẽ chấm dứt.

PV/Theo kế hoạch từ 15/11/2013 đến 15/2/2014, Tổng cục Hải quan sẽ chạy thử VNACCS/VCIS, xin ông cho biết lý do tổng cục chọn thời điểm này chạy thử và ý nghĩa của việc chạy thử như thế nào và ngành Hải quan chuẩn bị như thế nào để chạy thử VNACCS/VCIS?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: Từ 01/4/2014 sẽ triển khai chính thức VNACCS/VCIS, trước đó có 3 tháng chạy thử nhằm giúp người dùng gồm cả hải quan và doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiểu và vận hành thành thạo các chức năng, quy trình nghiệp vụ hải quan trên hệ thống. Giai đoạn chạy thử có vai trò đặc biệt quan trọng, thông qua quá trình chạy thử để phát hiện ra lỗi trong quá trình thiết kế và những vấn đề mà hệ thống chưa đáp ứng được nhưng có phát sinh trong thực tế để có biện pháp khắc phục.

PV/Doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng những điều kiện gì khi tham gia chạy thử VNACCS/VCIS thưa ông?

Ông Nguyễn Mạnh Tùng: Doanh nghiệp cần nghiên cứu tài liệu về hệ thống VNACCS/VCIS đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Hải quan, chuyên mục Hệ thống VNACCS/VCIS. Cử cán bộ tham gia tích cực các lớp đào tạo và chi tiết về quy trình, nghiệp vụ sử dụng trong VNACCS/VCIS do các cục hải quan tỉnh, thành phố tổ chức từ tháng 9 đến tháng 11/2013. Đặc biệt, doanh nghiệp khẩn trương thực hiện đăng ký chữ ký số theo quy định tại Nghị định 87/2012/NĐ-CP và Thông tư số 196/2012/TT-BTC hướng dẫn thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Chữ ký số này sẽ được thực hiện trong hệ thống VNACCS/VCIS trong thời gian tới. Tổng cục Hải quan chấp nhận tất cả chữ ký số cung cấp bởi các nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép. Thời hạn hoàn thành đăng ký chữ ký số trước ngày 31/10/2013.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cử cán bộ đến cục hải quan tỉnh, thành phố nơi thường xuyên làm thủ tục hải quan để nhận mã người sử dụng (User ID) và mật khẩu (Password) phục vụ cho việc vận hành thử hệ thống. Đối với một số doanh nghiệp cần bổ sung thêm thông tin phục vụ cho việc đăng ký người sử dụng, Tổng cục Hải quan sẽ có hướng dẫn sau. Thời hạn hoàn thành việc đăng ký người sử dụng trước ngày 31/10/2013.

Doanh nghiệp thực hiện cài đặt phần mềm đầu cuối phục vụ cho việc chạy thử hệ thống VNACCS/VCIS theo một trong các cách thức sau: Thứ nhất: Doanh nghiệp tự đăng tải và cài đặt phần mềm do Tổng cục Hải quan cung cấp miễn phí. Thứ hai: Doanh nghiệp có thể sử dụng phần mềm đã được cơ quan hải quan công bố hợp chuẩn với hệ thống VNACCS/VCIS do các công ty tin học cung cấp: Trong trường hợp này, để cài đặt phần mềm đầu cuối, doanh nghiệp chủ động liên hệ các công ty tin học để được hướng dẫn. Thời hạn hoàn thành việc cài đặt phần mềm trước ngày 05/11/2013.

Đồng thời, doanh nghiệp chuẩn bị dữ liệu và hồ sơ khai hải quan theo hoạt động thực tế tại đơn vị mình. Thời hạn hoàn thành chuẩn bị dữ liệu xong trước ngày 10/11/2013. Tổ chức khai báo thủ tục hải quan tới các chi cục hải quan, doanh nghiệp thường xuyên mở tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo Nghị định 87/NĐ-CP (không giới hạn doanh nghiệp có thể khai thử nghiệm đối với các chi cục hải quan khác) trong thời gian từ ngày 15/11/2013 đến ngày 15/02/2014.

Mọi vướng mắc trong quá trình chạy thử Hệ thống VNACCS/VCIS, doanh nghiệp có thể phản ánh về Tổng cục Hải quan vào mục Tư vấn - Hỗ trợ trực tuyến để được hỗ trợ. Trong thời gian từ 13h30 đến 14h30 ngày 14/01/2014, doanh nghiệp tăng cường thực hiện khai tới hệ thống VNACCS/VCIS để kiểm tra khả năng chịu tải của hệ thống.

PV: Xin cảm ơn ông!

Dự án “Xây dựng, triển khai hải quan điện tử và thực hiện cơ chế hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan” (gọi tắt là Dự án VNACCS/VCIS) do Chính phủ Nhật Bản viện trợ trị giá 2,661 tỉ Yên. Đây là khoản viện trợ được thực hiện trên cơ sở đề nghị của Chính phủ Việt Nam, sau một thời gian tiến hành nghiên cứu thiết kế cơ bản, lập và thẩm định dự án, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định dành khoản viện trợ không hoàn lại này cho Việt Nam. Theo kế hoạch, dự án được triển khai thực hiện trong vòng 35 tháng và dự kiến hoàn thành chuyển giao cho Việt Nam trong năm 2014. Dự án VNACCS/VCIS có 3 cấu phần chủ yếu: Cấu phần 1- xây dựng hệ thống phần mềm VNACCS/VCIS; cấu phần 2 - trang bị phần cứng cho Trung tâm dữ liệu hải quan để vận hành VNACCS/VCIS và cấu phần 3 - tư vấn, hỗ trợ quản lí hải quan.


(Kim Liên - thực hiện)