“Thời cơ vàng” để Việt Nam tiến lên quốc gia mạnh về CNTT

“Trong kỷ nguyên thông tin hiện nay, muốn thoát khỏi tụt hậu, Việt Nam chỉ có một lựa chọn duy nhất là tiến lên kinh tế tri thức, xây dựng xã hội thông tin thông qua tin học hóa, trí thức hóa toàn diện đất nước. Trong đó, chấn hưng đất nước bằng CNTT, trở thành quốc gia mạnh về CNTT là niềm tin của hiện tại và tương lai.” -  đó là khẳng định của ông Bùi Thế Đức, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương tại Hội nghị trực tuyến phổ biến và quán triệt Nghị quyết số 36-NQ/TW (NQ 36) của Bộ Chính trị diễn ra đầu tháng 10 vừa qua. Việc ra đời NQ 36 ban hành ngày 1/7/2014 với những định hướng lớn cho sự phát triển ngành CNTT trong khoảng 10 - 20 năm tới đã tạo ra một thời cơ vàng thúc đẩy CNTT Việt Nam  phát triển mạnh mẽ và sâu rộng.

“Thời cơ vàng” để Việt Nam tiến lên quốc gia mạnh về CNTT
Tránh “bẫy thu nhập trung bình”
 
Theo ông Bùi Thế Đức, sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng thu nhập thấp và vững bước trên con đường hội nhập quốc tế, nhưng lại đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề. Đó là tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm nặng nề, đất đai chưa khai thác hiệu quả. Kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng thiếu bền vững, có nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là điểm “nghẽn” cản trở sự phát triển. Ngoài ra, những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội vẫn đang tiềm ẩn, chủ quyền biển đảo có những diễn biến phức tạp.

Để giải quyết những vấn đề này, Đảng và Nhà nước đã xác định phải thực hiện 3 đột phá chiến lược gồm: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ; Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Trong đó, CNTT chính là công cụ hữu hiệu để thực hiện các đột phá chiến lược trên, là chìa khóa để Việt Nam bước vào giai đoạn mới.

Ông Bùi Thế Đức cho rằng, trong suốt nhiều thế kỷ qua và trong số hàng trăm quốc gia, đa số các nước đều không thể vượt được “bẫy thu nhập trung bình”. Chỉ có rất ít nền kinh tế tiến vượt lên, đuổi kịp các nước đi trước và trở thành nước phát triển, điển hình như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Ai-len. Điều đáng chú ý là các nước phát triển mạnh mẽ này đều chọn CNTT làm nền tảng để thực hiện công cuộc hiện đại hóa. Thậm chí, Hàn Quốc, Đài Loan, Ai-len đã lấy CNTT làm trụ cột và mũi nhọn đột phá, nhờ đó mà nhanh chóng vượt lên. Hiện nay, một số nước như Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang triệt để vận dụng kinh nghiệm này và tạo ra những kỳ tích phát triển mới.

Điều đó có nghĩa rằng, trong nền kinh tế hiện đại, hàm lượng tri thức có vai trò quyết định vượt trội so với vốn, lao động, tài nguyên trong các sản phẩm và dịch vụ, tạo ra tăng trưởng bền vững. Đất nước nào có nhiều năng lực sáng tạo công nghệ, làm chủ được nhiều công nghệ cao và có nguồn nhân lực chất lượng cao, đất nước đó sẽ tiến vượt và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh phát triển.

Việt Nam đang đứng trong kỷ nguyên của thông tin, những lợi thế của nước có dân số vàng rồi cũng sẽ qua đi. Đất nước chúng ta đã bắt đầu quá trình già hóa dân số từ 3 năm qua. Vì thế, muốn thoát khỏi tụt hậu, tránh được “bẫy thu nhập trung bình”, chúng ta chỉ có một lựa chọn duy nhất là tiến lên kinh tế tri thức, xây dựng xã hội thông tin thông qua tin học hóa, trí thức hóa toàn diện đất nước ngay trước khi quá muộn.

Câu chuyện phát triển CNTT ở nước ta không phải là mới, bởi Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và quan tâm đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT. Sau gần 15 năm thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đến nay, CNTT đã trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, đóng góp ngày càng lớn vào quá trình phát triển đất nước. Viễn thông Việt Nam đã áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến, có tốc độ phát triển nhanh. Các ứng dụng CNTT đã góp phần nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp, chính sách về ứng dụng, phát triển CNTT ngày càng được hoàn thiện, hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về CNTT được xác lập và từng bước nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động.

Tuy nhiên, đánh giá về tình hình ứng dụng, phát triển CNTT ở nước ta hiện nay, Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị cho rằng quy mô ngành công nghiệp CNTT còn nhỏ, giá trị gia tăng chưa cao. CNTT Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, khả năng làm chủ công nghệ còn hạn chế và chúng ta chưa có nhiều doanh nghiệp và sản phẩm đủ sức cạnh tranh. Ứng dụng CNTT mới chủ yếu theo chiều rộng, chưa thực sự phát huy hiệu quả và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước. Ngoài ra, công tác bảo đảm an toàn an ninh thông tin chưa theo kịp sự phát triển của CNTT, cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những hạn chế này được lý giải là do: tư duy và nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của CNTT trong nhiều cấp ủy, chính quyền và những người đứng đầu trong các cơ quan này chưa thực sự đầy đủ. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về ứng dụng, phát triển CNTT còn chậm và thiếu quyết liệt.

Trong khi đó, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tốc độ phát triển bùng nổ của CNTT, viễn thông và internet ngày càng diễn ra nhanh chóng đã đặt ra không ít khó khăn thách thức cho cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, phòng chống chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin và đặc biệt là bảo vệ chủ quyền số quốc gia, giữ vững an ninh, quốc phòng.

Nhận thấy vai trò quan trọng của CNTT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới và để khắc phục những hạn chế nêu trên, đưa Việt Nam tránh được “bẫy thu nhập trung bình”, Bộ Chính trị đã đặt ra những mục tiêu chiến lược đối với CNTT thông qua NQ 36. Theo đó, CNTT sẽ phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một trong những ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống, chỉ số phát triển người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng. Đến năm 2030, CNTT phải có năng lực nghiên cứu ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và bằng CNTT.

Có thể thấy, mặc dù Chỉ thị số 58-CT/TW vẫn còn nguyên giá trị và tính thực tiễn cao, nhưng việc “nâng tầm” từ Chỉ thị lên Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm của Bộ Chính trị và lãnh đạo Đảng đối với vai trò của CNTT, đồng thời khẳng định vai trò ngành CNTT là “chủ công” trong đời sống xã hội.
 
Để Nghị quyết đi vào cuộc sống
 
NQ 36 về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế ra đời đã trở thành “kim chỉ nam” trong thời kỳ phát triển mới của CNTT Việt Nam, đáp ứng niềm mong đợi của cả cộng đồng gồm các lãnh đạo CNTT trong cơ quan nhà nước, các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp CNTT. Và để đưa NQ 36 vào cuộc sống, đáp ứng kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và của giới CNTT, Bộ Chính trị đã giao Ban cán sự Đảng, Chính phủ xây dựng Chương trình, Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết, đồng thời giao các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp triển khai thực hiện Nghị quyết này.

Để đạt được các mục tiêu cụ thể đến năm 2020, NQ 36 đã đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, gồm: Đổi mới, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ứng dụng, phát triển CNTT; Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển CNTT; Xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia đồng bộ, hiện đại; Ứng dụng CNTT rộng rãi, thiết thực và có hiệu quả cao; Tạo điều kiện thuận lợi phát triển CNTT, kinh tế tri thức; Phát triển nguồn nhân lực CNTT đạt chuẩn quốc tế, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới; Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quốc phòng, an tinh, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, nâng cao năng lực quảy lý các mạng viễn thông, truyền hình, internet; Tăng cường hợp tác quốc tế.

Với vai trò là cơ quan chức năng quản lý về CNTT, Bộ TT&TT cũng đã xây dựng dự thảo Chương trình hành động của Chính phủ nhằm chi tiết hóa các giải pháp, nhiệm vụ chủ yếu của NQ 36, đề ra các phương hướng hành động, phối hợp và đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Tới đây, khi Chương trình hành động của Chính phủ được ban hành, các cấp, các ngành, địa phương sẽ căn cứ theo Chương trình này để xây dựng kế hoạch và chương trình hành động phù hợp với thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Giới thiệu về Chương trình hành động, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng cho biết, Chương trình hành động được Bộ TT&TT xây dựng, có sự tiếp thu ý kiến đóng góp của các cơ quan, đơn vị và dự kiến sẽ được phê duyệt bằng một Nghị quyết của Chính phủ. Tính đến ngày 8/10/2014, Bộ TT&TT đã tiếp nhận được ý kiến của 16 Ban, Bộ, ngành trung ương và 32 địa phương.
Dự thảo Chương trình hành động gồm có 4 phần, trong đó phần 1 nêu mục tiêu của Chương trình hành động. Phần 2 sẽ liệt kê những nhiệm vụ cần tổ chức thực hiện theo tinh thần và nội dung của Nghị quyết 36-NQ/TW. Từ đó các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp căn cứ và xác định những nhiệm vụ liên quan cần triển khai tổ chức thực hiện. Phần 3 về tổ chức thực hiện, sẽ phân công các Bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan tổ chức thực hiện Chương trình hành động. Cuối cùng là phần 4 gồm phụ lục, liệt kê những nhiệm vụ mới mà các Bộ, ngành, địa phương và cơ quan, đơn vị liên cần tổ triển khai trong thời gian tới.

Các nhiệm vụ nằm trong Chương trình hành động được xây dựng dựa trên quan điểm xuyên suốt của Bộ Chính trị về CNTT, đó là coi CNTT là công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Ứng dụng, phát triển CNTT là yếu tố quan trong đảm bảo thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, cần được chú trọng, ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Việt Nam sẽ ứng dụng CNTT, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực, song có trọng tâm ưu tiên ứng dụng trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, trước hết là trong các lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp. Việt Nam cũng sẽ ưu tiên phát triển công nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với thu hút các tập đoàn công nghiệp CNTT đa quốc gia, hình thành các trung tâm nghiên cứu, phát triển. Bộ Chính trị coi đầu tư cho CNTT là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước, vì thế cần đi trước một bước trên cơ sở quản lý tốt, tăng cường khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ, bảo đảm an toàn an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Trong thời đại hiện nay, thông tin đã trở thành thước đo sự phát triển mỗi quốc gia chứ không đơn thuần là thước đo riêng của ngành CNTT. Tuy nhiên, thời gian qua CNTT mới chỉ được nhấn mạnh trong những văn bản chính sách hay pháp lý có liên quan trực tiếp đến ngành CNTT, mà ít được đề cập thỏa đáng trong các tài liệu chính sách hay chiến lược phát triển của ngành, lĩnh vực khác.

Do vậy để hiện thực thành công NQ 36 trong thời gian tới, ông Bùi Thế Đức cho rằng ngoài việc nhanh chóng và tích cực triển khai các nhiệm vụ đã được giao trong NQ 36, cần phải lồng ghép các nội dung, nhiệm vụ của NQ 36 về CNTT với các chủ trương, đường lối khác của Đảng như xây dựng nền kinh tế tri thức, phát triển đội ngũ trí thức trong Nghị quyết số 27-NQ/TW; định hướng phát triển khoa học công nghệ trong Nghị quyết số 20-NQ/TW; định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo trong Nghị quyết số 29-NQ/TW…

NQ 36 của Bộ Chính trị được đánh giá là một văn bản đặc biệt quan trọng bởi nó định hướng xuyên suốt cho chiến lược ứng dụng và phát triển CNTT và truyền thông của đất nước từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Đây là “thời cơ vàng” cho ngành CNTT và truyền thông nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam phát triển đột phá. Để nắm bắt thời cơ này, cộng đồng CNTT đang chờ đợi một chương trình hành động cụ thể, nhất quán với sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị.
 
(Huyền Thanh)