Thuê ngoài dịch vụ và câu chuyện sở hữu dữ liệu

Thuê dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) trong cơ quan nhà nước đang trở thành đề tài nóng hơn bao giờ hết, khi vẫn còn khá nhiều “lăn tăn” trong quá trình triển khai, đặc biệt là câu chuyện sở hữu dữ liệu của khách hàng.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Tiết kiệm, hiệu quả
 
Để làm rõ các hoạt động ứng dụng CNTT của cơ quan nhà nước thực hiện dưới hình thức thuê dịch vụ, cơ quan soạn thảo đã quy định danh mục các hoạt động ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước khuyến khích thực hiện dưới hình thức thuê dịch vụ.
 
Cụ thể, danh mục bao gồm 6 nhóm: Hoạt động tư vấn, đào tạo, chuyển giao về CNTT; Hoạt động liên quan đến hạ tầng kỹ thuật; Hoạt động ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp; Hoạt động tích hợp, kết nối liên thông các hệ thống thông tin theo yêu cầu cụ thể và hoạt động liên quan đến an toàn thông tin.
 
Theo ông Nguyễn Kim Cương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng công nghệ CMC thì với các phần mềm đặc thù cho từng ngành do thiếu tính phổ cập và khả năng lợi nhuận nên khó có thể triển khai thuê ngoài dịch vụ. Bởi thực tế là không một doanh nghiệp nào “dại” làm sẵn phần mềm dạng này vì sợ “ế”. Ngoài ra, cung cấp dịch vụ công tới người dân và doanh nghiệp cũng là mảng mà các cơ quan nhà nước có thể đi thuê ngoài dịch vụ được. Riêng những nội dung liên quan đến an ninh quốc gia thì chắc chắn cơ quan nhà nước phải tự triển khai thay vì thuê ngoài dịch vụ.
 
Trong cơ quan Chính phủ, thông tin được chia ra làm hai loại theo thời gian: Một là thông tin phổ biến và hai là thông tin mật theo thời gian, hết thời gian niêm phong mật thì mới được công bố rộng rãi. Do đó, Nhà nước nên đánh giá thông tin nào là nhạy cảm trong thời gian nhất định, xác định chu kỳ sống của thông tin để đảm bảo thông tin đó sẽ được bảo toàn.
 
Hiện nay, các dịch vụ công đang dần được triển khai rộng nên cần một hệ thống mạnh về đường truyền, hệ thống Potal...cũng như nhu cầu về tính an toàn an ninh thông tin cao nên có thể thuê dịch vụ ngoài. Nhìn chung, những hệ thống liên quan đến việc cung cấp dịch vụ phục vụ người dân đều có thể thuê từ nhà cung cấp.  Có thể nói, cơ quan Nhà nước không nên xây dựng phần mềm mà nên chuyển sang hình thức thuê ngoài dịch vụ phần mềm.
 
Bàn về việc triển khai các phần mềm như một dịch vụ, ông Nguyễn Xuân Hoàng, Tổng Giám đốc MISA cũng nhận định: Đây là thời điểm chín muồi để triển khai các phần mềm như một dịch vụ (SaaS). Về thiên thời, làm phần mềm như một dịch vụ đang là xu hướng của cả thế giới và Việt Nam không nên nằm ngoài xu hướng đó. Về địa lợi, Việt Nam đang có hạ tầng internet tương đối tốt, giá rẻ so với các nước trong khu vực. Trong khi đó, thiết bị di động cấu hình cao, giá thấp đang trở nên phổ biến.
 
“Về nhân hòa, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định và chủ trương khuyến khích thuê ngoài dịch vụ CNTT, trong khi nhận thức của các cơ quan tổ chức và người sử dụng về lợi ích của phần mềm dịch vụ và ứng dụng CNTT đang tăng lên. Từ rất sớm, MISA đã phát triển phần mềm như một dịch vụ theo dạng cho thuê như: Phần mềm quản lý tài sản (QLTS.VN), Quản lý hộ tịch (HOTICH.VN), Quản lý trường học (QLTH.VN) và sắp tới là phần mềm kế toán hành chính sự nghiệp”, ông Hoàng nói.
 
Từ góc độ là cơ quan nhà nước, ông Vũ Lê Huy, Phó Cục trưởng Cục CNTT, Tổng cục Thuế cho biết: Hiện ngành Thuế đang thuê dịch vụ nâng cấp ứng dụng hiện hành gồm: nâng cấp ứng dụng thường xuyên đáp ứng thay đổi của chính sách (Luật, Nghị định, Thông tư …) nhằm đảm bảo đúng thời gian hiệu lực của các chính sách; nâng cấp đáp ứng chính sách nghiệp vụ mới; nâng cấp sửa lỗi ứng dụng. Bên cạnh đó, hỗ trợ vận hành hệ thống cũng được ngành Thuế thực hiện hình thức thuê ngoài để đảm bảo vận hành hệ thống theo quy định và kịp thời phát hiện các lỗi, từ đó có biện pháp khắc phục.
 
Ngoài ra, việc với tổng số lượt yêu cầu hỗ trợ hệ thống ứng dụng ngành Thuế của các cục gửi về Tổng cục Thuế trong 6 tháng đầu năm 2014 là 31.399  lượt yêu cầu qua các đường email, điện thoại, fax, công văn... trong khi đó đội hỗ trợ gồm các cán bộ chủ chốt của Cục CNTT đang quá tải nên vẫn phải thuê dịch vụ hỗ trợ bên ngoài. Như vậy, Đội cố gắng xử lý hầu hết các yêu cầu hỗ trợ với tỷ lệ đạt 99,5%. Và tính ra vẫn còn tồn là 0,5% yêu cầu hỗ trợ liên quan nhiều đến các nghiệp vụ quản lý.
 
Có thể nói Tổng cục Thuế là điển hình trong khối cơ quan nhà nước đã áp dụng hình thức thuê dịch vụ từ nhà cung cấp, kể cả việc thuê bảo trì phòng máy chủ tại 63 cục thuế, thuê Trung tâm dữ liệu (TTDL). Nhờ thuê ngoài đơn vị tiết kiệm kinh phí thay vì phải đầu tư khi hết khấu hao.
 
Lợi ích trông thấy của việc thuê dịch vụ là hệ thống luôn được vận hành ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, linh hoạt trong việc mở rộng hệ thống và được bảo trì định kỳ và thay thế khi hỏng. Cụ thể là được đảm bảo giảm thiểu thời gian xảy ra lỗi xuống mức thấp nhất, do liên tục có những chuyên gia hàng đầu về điện, phòng cháy chữa cháy trực 24/7; có đội ngũ được đào tạo chuyên nghiệp thực hiện các công việc hạ tầng trong TTDL (triển khai hạ tầng điện, mạng, thiết bị mới, cũ trong TTDL); hệ thống máy phát được kiểm thử định kỳ thường xuyên.
 
Toàn bộ hệ thống như: điều hòa, UPS, máy phát, phòng cháy chữa cháy,  chống sét…  đều được bảo dưỡng định kỳ đảm bảo hoạt động ổn định cho thiết bị. Đáng chú ý, các lỗi xảy ra tại các trung tâm dự liệu trên thế giới đều được cập nhật vào kho dữ liệu lỗi, và các quy trình khắc phục, xử lý cho các lỗi này được diễn tập định kỳ tại TTDL Việt Nam.
 
Mặc dù lợi ích là thế, song thuê dịch vụ CNTT được đánh giá là mới chỉ dừng lại ở mức thuê nhân lực khi mà Tổng cục Thuế vẫn phải tốn nhiều thời gian kiểm soát chất lượng dịch vụ. Hơn nữa, do dịch vụ thuê ngoài ít nên các công ty/nhà thầu chưa đầu tư mạnh mẽ nhân lực để cung cấp dịch vụ.
 
Đôi lúc nhân lực hỗ trợ mức cao chưa đáp ứng kịp thời về mặt thời gian. Trong khi đó, số tiền thuê nhân lực nếu theo định mức thì rất thấp, các công ty không đủ để đầu tư người và đào tạo. Ví dụ theo Nghị định số 182/2013/NĐ-CP mức lương kỹ sư bậc 8 là 12 triệu đồng/tháng, nhưng thực tế mức lương cán bộ hỗ trợ mức 01 thuê cũng hơn 20 triệu đồng/tháng, còn thuê chuyên gia hỗ trợ mức 02 cũng phải mất hơn 30 triệu đồng/tháng.
 
Việc lập dự án đối với dịch vụ thuê ngoài tốn nhiều thời gian và thủ tục. Chính vì thế, “Quy định quản lý và nguồn kinh phí thuê, sử dụng dịch vụ CNTT trong cơ quan nhà nước” cần quy định lập dự án đối với hoạt động có mức vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng tương đương với gói thầu quy mô nhỏ quy định tại Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014. Đồng thời có cơ chế xác định giá gói thầu thuê ngoài theo báo giá phù hợp với tình hình thị trường.
 
Băn khoăn sở hữu dữ liệu
 
Nguyên tắc chung về thuê dịch vụ CNTT trong cơ quan nhà nước có quy định việc thuê dịch vụ phải đảm bảo thông tin, dữ liệu hình thành trong quá trình thuê dịch vụ là tài sản thuộc sở hữu của bên thuê. Nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm chuyển giao đầy đủ các thông tin, dữ liệu và các công cụ cần thiết để đảm bảo khai thác sử dụng được thông tin, dữ liệu này sau khi kết thúc thời gian cung cấp dịch vụ.
 
Tuy nhiên, không ít người còn khá “lăn tăn” về quyền sở hữu dữ liệu của mình khi chuyển sang dịch vụ của nhà cung cấp khác. Câu hỏi đặt ra là liệu lấy gì làm đảm bảo dữ liệu của mình được lưu trữ, chuyển giao đủ và không bị “tiết lộ” ra ngoài?
 
Lo ngại này không phải vô căn cứ vì: Với các hợp đồng thuê định kỳ, có những dịch vụ kéo dài nhiều năm nhưng khi hết hợp đồng, thực hiện đấu thầu lại thì có thể nhà thầu khác trúng thầu. Điều này đặt ra nguy cơ việc chuyển dữ liệu giữa các nhà cung cấp có thể gây gián đoạn dịch vụ.
 
“Do đó, cần có quy định một số dịch vụ đặc thù để khi tiếp tục đấu thầu thuê dịch vụ sẽ có cơ chế ưu tiên cho nhà thầu đã/đang cung cấp dịch vụ cho chủ đầu tư, ví dụ dịch vụ cho thuê máy chủ, thuê chỗ đặt máy chủ”, đại diện Tổng cục Thuế lưu ý. 
 
Giải tỏa những băn khoăn trên, ông Nguyễn Xuân hoàng – Tổng Giám đốc MISA cho rằng: Trong quy định thuê ngoài dịch vụ cần xác định rõ phần mềm của nhà cung cấp nhưng dữ liệu là của khách hàng. Trong hợp đồng giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ phải có điều khoản “Khách hàng có thể tải dữ liệu bất cứ lúc nào về máy tính dưới các định dạng chuẩn như XML hay exel”. Điều này có thể giúp khách hàng chuyển dữ liệu sang nhà cung cấp khác một cách dễ dàng. Đặc biệt, nhà cung cấp không được phép sử dụng dữ liệu của khách hàng dưới bất kỳ hình thức cũng như mục đích nào khác.  
 
Thực tế, trong các hợp đồng giá trị nhỏ đều có sẵn điều khoản bảo mật dữ liệu của khách hàng. Còn với hợp đồng lớn, vấn đề sở hữu dữ liệu và câu chuyện làm thế nào để chuyển được dữ liệu cho nhà cung cấp khác cũng được đàm phán tương đối lâu. Đây được ví như dịch vụ cho thuê bảo vệ nhưng trong lĩnh vực CNTT, để xác minh dữ liệu đã bị sao chép hoặc sử dụng vào mục đích khác cũng không phải dễ và nhanh chóng.
 
Như vậy, trừ khi có chuẩn công nghệ định dạng từng loại dữ liệu, thì việc sở hữu, cũng như chuyển dữ liệu đều phải thực hiện thông qua hình thức thỏa thuận. Trước mắt, để hướng đến cho thuê dịch vụ thì thời gian tới sẽ cần phải có người đứng ra đại diện để thẩm định chất lượng sản phẩm, dịch vụ.  
 
Còn lâu dài, để xây dựng Chính quyền điện tử thì cần chia dịch vụ CNTT do Nhà nước quản lý và dịch vụ thuê ngoài để nhà cung cấp có thể cùng nhau xã hội hóa dịch vụ đó. Nhờ thế có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cung ứng cạnh tranh lành mạnh và lâu dài. Xa hơn nữa, cần huy động toàn bộ nguồn lực xã hội, mặt khác nguồn lực cũng phải chuyên nghiệp hơn như cần có chứng chỉ an toàn thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế.
Có thể nói, chủ trương thuê ngoài dịch vụ CNTT là rất tốt, phù hợp với xu thế chung, tuy nhiên làm thế nào để tránh độc quyền trong việc thuê dịch vụ, cũng như để các nhà cung cấp dịch vụ bắt tay nhau, vẫn là câu hỏi cần sự tham gia giải đáp từ phía cơ quan quản lý nhà nước.

(Hương Thảo)