Trao quyền tự chủ đầy đủ cho đơn vị sự nghiệp công lập

Khu vực sự nghiệp công lập hiện có khoảng 33.000 đơn vị, với tổng số biên chế gần 2,1 triệu người, chiếm trên 80% tổng biên chế trong bộ máy nhà nước (trừ lực lượng vũ trang); tổng quỹ lương của khu vực này cũng chiếm xấp xỉ 80% tổng quỹ lương của khối các cơ quan, đơn vị nhà nước. Khu vực này đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần thúc đẩy hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Cùng với cải cách thể chế kinh tế nói chung, công cuộc đổi mới khu vực sự nghiệp công lập đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Trong đó có việc tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập, khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ, nâng cao số lượng, chất lượng dịch vụ, từ đó có thêm nguồn thu để tái đầu tư phát triển, cải thiện thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện cho Nhà nước cơ cấu lại NSNN, dành thêm nguồn lực để chăm lo tốt hơn các đối tượng chính sách, các đối tượng hộ nghèo, bảo trợ xã hội,...
 
Năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP quy định về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. Đây được coi là bước đột phá đầu tiên trong việc giao quyền tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập.
 
Đến năm 2006, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP (Nghị định 43) thay thế cho Nghị định 10/2002/NĐ-CP.  Theo đó, việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp không chỉ trong quản lý tài chính, mà trong cả thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
 
Mặc dù, trong từng lĩnh vực đã có những bước thử nghiệm về việc đổi mới hơn nữa cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp, nhưng về cơ bản đến nay các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn thực hiện các quyền tự chủ của mình trong khuôn khổ Nghị định 43.
 
Vì sao phải sửa Nghị định 43?
 
Sau hơn 7 năm thực hiện cho thấy, việc mở rộng trao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 43 đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực này; tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; đơn vị được mở rộng các hoạt động dịch vụ, tăng nguồn thu, để cùng với nguồn kinh phí NSNN từng bước nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công; tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội được lựa chọn, tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng ngày càng cao; thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện.
 
Mặc dù, đã có những tiến bộ nhất định, nhưng quá trình thực hiện Nghị định 43 cũng cho thấy, các đơn vị sự nghiệp cũng chưa được giao quyền tự chủ một cách đầy đủ, từ đó hạn chế các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc phát triển mở rộng, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công, nâng cao thu nhập cho người lao động, phấn đấu giảm yêu cầu hỗ trợ tài chính từ phía Nhà nước.
 
Cụ thể, tự chủ thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế: Mặc dù có quy định, nhưng đến nay các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc phạm vi quản lý. Do đó chưa đồng bộ với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Nghị định số 43 quy định đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí thường xuyên, được tự quyết định biên chế; tuy nhiên thực tế cơ quan chủ quản cấp trên vẫn giao chỉ tiêu biên chế sự nghiệp cho đơn vị này, đã hạn chế tính tự chủ của đơn vị. Việc xác định số người làm việc của đơn vị chưa căn cứ theo vị trí việc làm, nên số lượng viên chức trong thời gian qua tăng nhanh, tạo áp lực cho ngân sách nhà nước việc chi trả tiền lương cho đơn vị sự nghiệp công lập là một nguyên nhân làm chậm tiến độ cải cách tiền lương.
 
Tự chủ tài chính: Việc giao quyền tự chủ tài chính chưa khuyến khích các đơn vị để có đủ điều kiện phấn đấu tự chủ mức độ cao hơn (như tự chủ cả về chi thường xuyên và chi đầu tư). Việc phân bổ kinh phí NSNN vẫn thực hiện theo định mức chung, chưa thực sự gắn kết giữa giao nhiệm vụ (theo số lượng, khối lượng dịch vụ sự nghiệp công) tương ứng với giao kinh phí; chưa khuyến khích đúng mức các đơn vị tăng thu, giảm chi NSNN cấp; chưa xác định nguồn thu từ NSNN cũng là nguồn thu của đơn vị để giao quyền tự chủ; các đơn vị chưa hạch toán đầy đủ chi phí, theo đó chưa tạo được động lực đổi mới đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
 
Một số sản phẩm dịch vụ sự nghiệp công Nhà nước vẫn duy trì chính sách định giá thấp hơn chi phí cần thiết cung cấp dịch vụ (như học phí, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh…), nên dẫn đến một số hệ lụy là: Bao cấp qua giá đối với tất cả các đối tượng sử dụng, không phân biệt khả năng chi trả, từ đó tạo ra sự mất công bằng trong xã hội. Các đơn vị sự nghiệp công không thể hạch toán đầy đủ chi phí, có tích lũy để tái đầu tư phát triển, nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công một cách bền vững; gánh nặng chi NSNN cho khu vực sự nghiệp công ngày càng tăng (do tăng số lượng đơn vị, tăng biên chế, tăng chính sách chế độ,…), là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến độ cải cách tiền lương. Đặc biệt, việc định giá một số loại dịch vụ công ở mức thấp đã hạn chế sức hấp dẫn các thành phần kinh tế khác cùng tham gia đầu tư cung ứng dịch vụ công.
 
Sẽ có Nghị định khung quy định cơ chế tự chủ
 
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc đổi mới khu vực sự nghiệp công, Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu sửa đổi Nghị định 43 theo hướng ban hành một Nghị định khung quy định các vấn đề chung về cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập. 
 
Các Bộ quản lý ngành căn cứ vào Nghị định khung xây dựng và trình Chính phủ ban hành các nghị định quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực: Y tế; giáo dục đào tạo; dạy nghề; văn hoá thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.
 
Quan điểm đặt ra khi xây dựng các Nghị định này là nhằm đổi mới toàn diện, tái cơ cấu các đơn vị sự nghiệp công; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp, bao gồm cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và về tài chính; đơn vị càng tự chủ cao về tài chính thì được tự chủ cao trong triển khai thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và phân bổ, sử dụng các nguồn tài chính; phân định rõ các nhóm đơn vị và loại hình dịch vụ sự nghiệp công để có bước đi và lộ trình phù hợp xóa bỏ bao cấp qua giá, từng bước tính đủ chi phí; Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách sử dụng dịch vụ sự nghiệp công; đổi mới phương thức chi từ ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp theo hướng tăng cường thực hiện phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật.
 
Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Chính phủ thông qua Nghị định quy định cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp tại phiên họp tháng 10/2014. So với Nghị định 43, một số nội dung đổi mới trong quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập như sau:
 
          Tự chủ thực hiện nhiệm vụ: Nghị định mới quy định đơn vị sự nghiệp công lập được chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động đối với phần dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.
 
          Đối với phần dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước, đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phê duyệt và quyết định phương thức giao kế hoạch cho đơn vị thực hiện.
 
          Trên cơ sở kế hoạch hoạt động, đơn vị được chủ động quyết định các biện pháp thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch của đơn vị, kế hoạch của cơ quan cấp trên giao, đảm bảo chất lượng, tiến độ; tham dự đấu thầu các hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của đơn vị; liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định của pháp luật.
 
          Tự chủ về tổ chức bộ máy: Đơn vị sự nghiệp công được quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị không thuộc cơ cấu tổ chức các đơn vị cấu thành theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, khi đáp ứng các tiêu chí, điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật; xây dựng phương án sắp xếp lại các đơn vị cấu thành trình cơ quan có thẩm quyền quyết định.
          Riêng đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công do ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên thì phải xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định.
 
          Tự chủ về nhân sự: Theo quy định, các đơn vị sự nghiệp công phải có thực hiện xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và quản lý viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật; thuê hợp đồng lao động để thực hiện nhiệm vụ.
 
Tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập:Tương tự như Nghị đinh 43, Nghị định mới cũng xây dựng các quy định về tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp trên nguyên tắc đơn vị tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về quản lý, sử dụng các kết quả tài chính và ngược lại. Quy định này nhằm khuyến khích các đơn vị tự chủ thấp phấn đấu tăng nguồn thu để được mức tự chủ cao hơn.
 
Bên cạnh đó, đơn vị được tự xác định giá dịch vụ theo nguyên tắc thị trường đối với loại dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí NSNN. Đối với loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí NSNN, đơn vị được quyết định mức thu theo lộ trình tính giá do Nhà nước công bố.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các đơn vị có điều kiện vươn lên nhanh hơn, Nghị định mới quy định, căn cứ vào tình hình thực tế, các đơn vị sự nghiệp công được thực hiện trước lộ trình giá dịch vụ sự nghiệp công.
 
Các đơn vị sự nghiệp được chủ động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công (kể cả nguồn ngân sách nhà nước đấu thầu, đặt hàng), nguồn thu phí theo quy định được để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên.
 
          Chi tiền lương, Nghị định quy định các đơn vị sự nghiệp chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công.  Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không cấp bổ sung; đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung (nếu thiếu).  
 
          Đối với phần thu nhập tăng thêm, các đơn vị được chủ động sử dụng Quỹ bổ sung thu nhập để thực hiện hiện phân chia cho người lao động trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của người lao động.
 
Tương tự như Nghị định 43, Nghị định mới quy định, hàng năm sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác (nếu có) theo quy định; phần chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị được sử dụng để trích lập các quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổ sung thu nhập; quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi. Ngoài ra, Nghị định mới cũng cho phép các đơn vị được trích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật cho phù hợp với thực tế .
 
Để có thể triển khai được Nghị định này vào thực tế, có rất nhiều việc phải làm, trong đó: Các Bộ quản lý ngành căn cứ vào Nghị định khung xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc sửa đổi các nghị định quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực.
 
Bên cạnh đó, các Bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản: Danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN thuộc lĩnh vực quản lý; Quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công; Định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành các dịch vụ sự nghiệp công do Nhà nước quản lý, làm cơ sở ban hành giá dịch vụ sự nghiệp công tính đủ chi phí; Tiêu chí, tiêu chuẩn dịch vụ sự nghiệp công; Cơ chế đặt hàng, đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công...
Chủ trương, định hướng về cải cách khu vực sự nghiệp công đi vào cuộc sống, bên cạnh việc hoàn thiện về thể chế, cần có sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy đảng, chính quyền trên tất cả các ngành, các cấp, từ trung ương đến địa phương và trong từng đơn vị sự nghiệp.
 
Đối với các Bộ, ngành, địa phương, bên cạnh trách nhiệm tổ chức, sắp xếp, chuyển đổi, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; giao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp trực thuộc; xem xét quyết định đơn vị sự nghiệp công trực thuộc được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp; còn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động nhằm quán triệt sâu rộng, tạo sự thống nhất về nhận thức về sự cần thiết, tính cấp bách của việc đổi mới, các nội dung đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; đồng thời khuyến khích thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển dịch vụ sự nghiệp công để hướng tới việc cung cấp tốt hơn dịch vụ cho mọi tầng lớp nhân dân và bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội và người nghèo được tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ cơ bản thiết yếu với chất lượng cao hơn.

(Kim Liên)