Vì một môi trường thuế minh bạch

Làm thế nào để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người nộp thuế, nhưng vẫn phải chống thất thu thuế tránh những rủi ro trong quản lý thuế và tạo ra một môi trường pháp luật về thuế ngày càng hiệu quả, minh bạch hơn. Đấy là mục đích hướng tới của tất cả các hội nghề nghiệp mà không chỉ có Việt Nam, đó là chia sẻ của bà Nguyễn Thị Cúc – Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA) tại Hội thảo quốc tế và Hội nghị thường niên của Hiệp hội Tư vấn Thuế Châu Á - Châu Đại Dương (AOTCA) do Hội tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA), Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính phối hợp tổ chức từ ngày 16 đến 18/10/2013 tại Hà Nội. 

Vì một môi trường thuế minh bạch

Ưu đãi thuế thu hút đầu tư

Việt Nam đang trong tiến trình cải cách và đổi mới nền kinh tế - tài chính, đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập khu vực và thế giới. Mặc dù trong bối cảnh khó khăn và đầy biến động của kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn cố gắng giữ được ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì được mức tăng trưởng GDP bình quân 5,6% mỗi năm trong giai đoạn 2011 – 2013 vừa qua.

Năm 2012, tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam và thế giới là 204 tỷ USD, trong đó Châu Á và Châu Đại Dương chiếm tỉ trọng khoảng 50%. Về đầu tư, Việt Nam được đánh giá là một địa điểm đầu tư dài hạn và triển vọng nhờ có sự ổn định về chính trị xã hội, vị trí địa lý thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, nguồn lao động cần cù sáng tạo… Đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam có 15.100 dự án với tổng số vốn đăng ký là 220 tỷ USD, đã giải ngân khoảng 50% (107 tỷ USD). Tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực FDI tăng dần theo từng năm và bổ sung nguồn vốn quan trọng cho nền kinh tế (hiện chiếm 25% tổng vốn đầu tư xã hội); làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu (chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012); đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách (14,2 tỷ USD trong giai đoạn 2001-2010), riêng năm 2012 đóng góp khoảng 3,7 tỷ USD).

Thời gian qua, đầu tư nước ngoài đã có tác động tích cực, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các ngành trong nền kinh tế cũng như cơ cấu nội bộ từng ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhận thấy được tầm quan trọng đó, Việt Nam vẫn đang tiếp tục nỗ lực nhằm cải cách kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về tài chính, thuế. Đồng thời, cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng và minh bạch cho các nhà đầu tư tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam.

Giới thiệu tại hội nghị những chính sách mới về ưu đãi thuế tại Việt Nam, ông Nguyễn Văn Nam, thành viên điều hành của Hội tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA) cho biết: Từ ngày 01/01/2014, Luật số 32/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đã bổ sung nhiều quy định nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (DN), thu hút và khuyến khích đầu tư sẽ chính thức có hiệu lực. Các DN trong nước cũng như nước ngoài sẽ được thụ hưởng nhiều từ những quy định mới này.

Cụ thể, giảm nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp: Mức thuế suất phổ thông được áp dụng là 22% từ 01/01/2014 và kể từ ngày 01/01/2016 sẽ là 20%. Riêng DN có tổng doanh thu một năm không quá 20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 20% từ 01/07/2013. Các DN tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghiệp cao, DN nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ cao, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng… sẽ được ưu đãi áp dụng thuế suất 10% đối với thuế TNDN trong thời gian 15 năm từ năm đầu có doanh thu, miễn thuế TNDN trong thời gian 4 năm từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế, giảm 50% thuế TNDN trong vòng không quá 9 năm sau thời gian được miễn thuế.

Với các D thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường; DN đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực nhà ở xã hội… sẽ được áp dụng thuế suất thuế TNDN 10% trong suốt quá trình hoạt động.

Khuyến khích đầu tư mở rộng: Trên thực tế, hầu hết các DN không muốn hình thành pháp nhân mới do thủ tục và tăng thêm chi phí nên Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN đã bổ sung quy định miễn thuế, giảm thuế đối với việc đầu tư mở rộng. Nếu DN đáp ứng một trong 3 tiêu chí: Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động tối thiểu từ 20 tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực hưởng ưu đãi thuế TNDN; hoặc từ 10 tỷ đồng đối với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về thuế TNDN. Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với tổng nguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư. Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khi đầu tư.

Nới rộng chi phí tính thuế TNDN: Một số chi phí như tuyên truyền, quảng cáo, chương trình khuyến mại, trước đây DN mới thành lập được áp dụng 15% trong 3 năm, còn tất cả các đối tượng doanh nghiệp khác là 10%; nhưng hiện nay, theo Luật mới, tất cả các chi phí đều được tính là 15% không khống chế 3 năm. Bên cạnh đó, nhằm tránh đánh thuế trùng và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế, Việt Nam đã ký Hiệp định với 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 58 Hiệp định đã có hiệu lực thi hành.

Mặc dù được nhận xét là một nước có nhiều ưu đãi thuế hấp dẫn, cởi mở để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, song ông Thomas Lee, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn thuế Châu Á – Châu Đại Dương cho rằng, ưu đãi thuế chỉ là một yếu tố hấp dẫn có thời hạn. Chính sách thuế cũng như các chính sách khác không phải là một cái gì đó ổn định. Lấy ví dụ như ở Trung Quốc, trong vài chục năm vừa qua, quốc gia này đã thường xuyên, liên tục sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách thuế để phù hợp với nhu cầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vì thế, bất cứ một quốc gia nào cũng không thể “ưu đãi mãi mãi”, “miễn thuế mãi mãi” cho các công ty. Bản thân các công ty cũng hiểu được điều đấy và xem xét đến các yếu tố khác ngoài thuế.

Việt Nam có rất nhiều nhân tố để thu hút nhà đầu tư nước ngoài như: Sự ổn định chính trị và đảm bảo an ninh; thị trường và nền kinh tế phát triển mạnh với hơn 90 triệu người tiêu dùng có thu nhập tăng đều đặn; lực lượng lao động trẻ, chi phí thấp, trình độ cao và tác phong nghề nghiệp tốt, môi trường sống thân thiện; tài nguyên thiên nhiên phong phú… Thời gian tới, Việt Nam sử dụng những yếu tố này như thế nào để biến Việt Nam trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn lâu dài thì đấy còn phụ thuộc nhiều vào sự chung sức của các bộ, ban, ngành từ trung ương tới địa phương.

“Khi chúng ta thu hẹp dần các ưu đãi thuế thì chúng ta phải cân nhắc để tạo ra những sức hút, lợi thế khác để giữ chân DN ở lại”, ông Thomas Lee nhấn mạnh

APA chống dịch chuyển lợi nhuận hữu hiệu

Ở tất cả các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nguồn vốn FDI là nguồn sức mạnh giúp cho một đất nước đó tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ thông qua việc đầu tư máy móc, khoa học kỹ thuật mới…

Bên cạnh những thuận lợi, nguồn sức mạnh đó cũng bộc lộ những mặt trái nhất định. Một trong số đó là vấn đề tuân thủ các quy định về thuế. Những hình thức “tránh thuế” dần dần sẽ dẫn đến việc “trốn thuế”. Ranh giới giữa “tránh thuế” và “trốn thuế” đang ngày càng mờ nhạt dần, bởi chúng ta đang sống trong thời đại mà việc dịch chuyển lợi nhuận từ khu vực có thuế suất cao, sang nơi có thuế suất thấp hơn đã trở thành một khái niệm quá quen thuộc. Ngày nay, các tập đoàn kinh tế, DN ngày càng có kinh nghiệm để tránh thuế, thậm chí họ còn lên hẳn kế hoạch, chiến lược để thực hiện việc này một cách bài bản. Mặc dù, việc ưu đãi thuế để thu hút đầu tư là cần thiết, song bản thân mỗi một quốc gia cần có một chế tài đủ mạnh để có thể kiểm soát và giúp các DN nước ngoài thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình.

Việt Nam đang tăng cường khuôn khổ pháp lý và khả năng thực thi các quy định về xác định giá thị trường, cũng như nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý thuế đối với các hoạt động xác định giá thị trường. Phương pháp xác định giá thị trường thuế (APA) là nỗ lực của các nhà đầu tư cũng như chính phủ trong việc loại bỏ gánh nặng trong hoạt động quản lý thuế hiện nay.

“Với chính phủ, việc áp dụng APA sẽ giúp ổn định nguồn thu. Còn đối với DN, nó giúp tăng cường tuân thủ cũng như củng cố sự tự tin của DN. Đồng thời, giúp DN giảm thiểu các rủi ro liên quan như bị truy thu thuế, phạt hành chính gây ảnh hưởng tới kết quả. Thêm vào đó, APA còn giúp ngăn chặn khả năng bị đánh thuế hai lần”, bà Vũ Thị Hương - Phó Tổng giám đốc EY Việt Nam (Ersn & Young), thành viên Hội tư vấn thuế VTCA chia sẻ.  

Vậy APA là gì? Cơ chế APA là một thỏa thuận trước giữa cơ quan thuế và người nộp thuế về cơ sở tính thuế, phương pháp xác định giá trong các giao dịch với thời hạn không quá 5 năm. Điều này có nghĩa là, dù DN lỗ, hay lãi, nếu đã thỏa thuận APA thì khoản thuế phải nộp của DN sẽ không thay đổi theo mức giá tính thuế được thỏa thuận từ trước đó. 

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2013/QH13 được Quốc hội thông qua vào ngày 21/11/2012 có hiệu lực từ 01/7/2013 cũng đã bổ sung cơ chế APA trong chống chuyển gia ở các DN đầu tư nước ngoài. Để làm được điều đó, Chính phủ Việt Nam đã tham khảo rất nhiều những quy định APA tại nhiều nước trong khu vực.

Hiện nay, chính phủ cũng đang trong quá trình hoàn thiện các hướng dẫn về APA dành cho người nộp thuế. Các nhà hoạch định chính sách cũng xem xét để đưa ra yêu cầu về điều kiện áp dụng APA, có thể bao gồm giá trị tối thiểu của giao dịch liên kết nằm trong phạm vi APA hoặc tính phức tạp của các giao dịch liên kết. Điều này sẽ giúp người nộp thuế nhận biết được họ có khả năng đáp ứng các yêu cầu đề ra hay không và giúp cho quá trình này được thực hiện hiệu quả hơn. Như vậy, chỉ có một số người nộp thuế đáp ứng đủ các điều kiện mới được nộp đơn yêu cầu áp dụng APA.

Trước những thách thức về “lỗ giả lãi thật” kéo dài trong nhiều năm qua, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn ngân sách nhà nước thì cơ chế APA đang được kỳ vọng là giải pháp hữu hiệu của Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế APA tại Việt Nam vẫn còn rất nhiều những khó khăn. Hiện nay, Việt Nam có trên 500.000 DN, 1,2 triệu hộ kinh doanh cá thể trong số lượng các DN nhỏ và vừa chiếm một tỉ lệ lớn. Thêm vào đó, nhân lực của ngành Thuế thì lại hạn chế, nên việc quy định APA một cách giản lược là một yếu tố cần thiết. Bởi quy trình APA giản lược sẽ tiêu tốn ít thời gian và chi phí hơn đối với cả người nộp thuế và cơ quan thuế.

Theo khuyến nghị của bà Vũ Thị Hương, APA giản lược sẽ nhằm vào các đối tượng nộp thuế có giao dịch liên kết với giá trị hoặc rủi ro thấp, nhưng mong muốn đạt được sự chắc chắn về thuế liên quan đến hoạt động xác định giá thị trường. Các đối tượng này sẽ được giảm bớt các thông tin bắt buộc phải cung cấp trong quá trình khai nộp hồ sơ.

Với APA phức tạp thì đối tượng nhắm tới là các giao dịch liên kết phức tạp, phù hợp với các giao dịch liên kết trên phạm vi quốc tế: có rủi ro cao; không tìm được các đối tượng tương đồng; số thuế phải nộp liên quan đến giao dịch rất lớn hoặc có khả năng trực tiếp, gián tiếp dẫn đến việc chuyển một lượng lớn lợi nhuận ra khỏi Việt Nam.

Một thực tế nữa là hiện tại, cơ chế APA tại Việt Nam do mới được áp dụng nên các quy định còn chưa được chi tiết. Ông Bùi Ngọc Tuấn - Phó Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt Nam chỉ ra rằng, việc hướng dẫn để thực hiện cơ chế APA chưa được chi tiết. Trong đó nhiều yếu tố cần được để ý tới như biến động giá cả thị trường, tỷ lệ lạm phát... để hai bên gồm cơ quan thuế và người nộp thuế cùng đi đến thống nhất.

Đồng thời, việc đàm phán để tiến tới thoả thuận APA diễn ra trong một thời gian dài và có thể ở nhiều nơi, đặc biệt là với APA song phương và đa phương. Vì vậy, sẽ cần một khoản thời gian dài và chi phí không nhỏ. Mỗi thỏa thuận APA ở Hồng Kông theo khung dự điến phê duyệt là 18 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ, tại Malaysia thời gian để hoàn thiện hồ sơ APA chính thức là 12 - 24 tháng, sau khi kết thúc các cuộc họp trước khi người nộp thuế nộp hồ sơ chính thức; tương tự tại Colombia là 9 tháng; Italia 6 tháng; Mỹ 45 tháng; Singapore 24 tháng và Hàn Quốc 30 tháng.

Chính vì thế, dù APA là phương thức hiệu quả và chủ động để giảm thiểu rủi ro liên quan đến vấn đề xác định giá thị trường. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cho tất cả mọi đối tượng, do nó đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và các nguồn nhân lực cần thiết. Do đó, người nộp thuế cần cân nhắc kỹ việc áp dụng APA để quản lý rủi ro liên quan đến xác định giá thị trường trong tương lai.

Theo bà Vũ Thị Hương, APA chỉ được xem là lý tưởng khi: Người nộp thuế phải đối mặt với nhiều tranh chấp hoặc các điều chỉnh liên quan đến xác định giá thị trường; Quy mô và mức độ phức tạp của các giao dịch quốc tế lớn; Phương pháp tiếp cận/phương pháp định giá đang áp dụng có thể bị cơ quan thuế chất vấn; Lợi ích của việc áp dụng APA là vượt trội hơn so với các kênh giải quyết tranh chấp khác.

Mặc dù áp dụng muộn hơn so với các nước khác, nhưng đấy cũng là một yếu tố thuận lợi để Việt Nam lắng nghe, tiếp thu kinh nghiệm từ những nước khác trên thế giới để áp dụng một cách có hiệu quả. Qua kinh nghiệm của các nước khác có thể thấy, việc áp dụng APA ở mỗi nước dù sớm hay muộn thì cũng gặp không ít những phát sinh.

Đơn cử như tại Hồng Kông, trước đây được coi là “thiên đường thuế” trên thế giới với những mức thuế rất ưu đãi, sau khi chịu sự chỉ trích từ rất nhiều nước, Hồng Kông mới bắt đầu thay đổi và xây dựng cơ chế chống chuyển giá. Thực chất, Hồng Kông vẫn thiếu cơ sở pháp lý toàn diện về chuyển giá. Ngay cả như tại Nhật Bản - quốc gia tiên phong trong việc áp dụng cơ chế này từ năm 1987 nhưng cũng gặp khá nhiều khó khăn, trước những bất đồng liên quan đến việc xác định giá thị trường, đặc biệt là tại những thỏa thuận song phương.

Đây cũng là vấn đề được nhiều đại diện của các hội tư vấn thuế ở nhiều nước khác như: Malaysia, Indonesia... đồng tình trong những chia sẻ của mình. Phần lớn đại diện các nước đều thừa nhận, rất khó để có những điều luật toàn diện cho chống chuyển giá. Điều này không chỉ khiến các nước trong khu vực châu Á mà nhiều nước tại châu Âu và châu Mỹ “đau đầu”.

“Vì vậy, trong quá trình mới triển khai, Việt Nam cần lưu ý những yếu tố giúp nghiệp vụ thực hiện APA có độ chắc chắn cao như những thông tin của doanh nghiệp về mua bán sáp nhập, quy định về DN có cư trú hay không cư trú...”, ông Marcellus Wong – Cố vấn cao cấp, PwC Hồng Kông lưu ý.

(Thu Hằng)