Vì sao “vắng bóng” dịch vụ công trực tuyến mức độ cao?

Theo báo cáo xếp hạng Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc, tính đến hết năm 2013, Việt Nam có trên 104.000 dịch vụ công trực tuyến, nhưng trong đó chỉ có 2.366 dịch vụ mức độ 3 và mức độ 4 là 111 dịch vụ. Con số này cho đến nay có tăng lên nhưng không nhiều. Sự thiếu vắng các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao được cung cấp cả về số lượng và hiệu quả sử dụng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các cơ quan nhà nước sự thay đổi tư duy mạnh mẽ cũng như cần có một lộ trình bắt buộc.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.
Những chỉ số “không thể hài lòng” 
Sự bùng nổ của nền tảng công nghệ SMAC (Social – Mobile – Analytics - Cloud) và xu hướng internet của vạn vật (internet of things – IoT) khiến thế giới trở lên nhanh hơn bao giờ hết. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các quốc gia đi sau có cơ hội nắm bắt CNTT để tăng tốc phát triển với tốc độ không hạn chế. Đây được cho là cơ hội tuyệt vời để Việt Nam tăng tốc phát triển. Trong đó, việc nhanh chóng nâng cấp độ ứng dụng CNTT xây dựng chính phủ điện tử, thúc đẩy cải cách hành chính, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, tạo dựng môi trường kinh doanh thuật lợi, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) và quốc gia là một trong những giải pháp chiến lược.
Ông  Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, hiện nay các bộ ngành, địa phương đã và đang tích cực đẩy mạnh quản trị thông minh bằng cách ứng dụng CNTT góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Trong đó, thư điện tử đã được triển khai tại hầu hết các Bộ, ngành với số lượng cán bộ công chức sử dụng ngày càng tăng, giúp tiết kiệm được các chi phí gửi/nhận văn bản, tài liệu. Chẳng hạn, nhờ sử dụng thư điện tử mà TP. Hà Nội tiết kiệm được 100 triệu đồng mỗi ngày, TP. Hải Phòng tiết kiệm 2 tỷ đồng và Bắc Giang tiết kiệm được 14 tỷ đồng mỗi năm. 
Các chương trình quản lý văn bản được trang bị tại 30 bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan trực thuộc chính phủ, cùng 63 tỉnh, thanh phố trực thuộc trung ương. Bên cạnh đó, hội nghị truyền hình cũng được triển khai rất phổ biến cho các cuộc họp Chính phủ, cuộc họp của Thủ tướng Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương, cũng như giữa các cơ quan với nhau. 
Trung bình mỗi cuộc họp ở cấp quốc gia thực hiện theo hình thức hội nghị truyền hình sẽ tiết kiệm được khoảng 2 tỷ đồng. Có 61/63 tỉnh, thành phố đã triển khai ứng dụng CNTT tại bộ phận một cửa, nâng tổng số hồ sơ được giải quyết đúng hạn tăng từ 60% lên trên 90%. Môi trường hành chính được hiện đại hóa, sự hài lòng của người dân về việc giải quyết thủ tục hành chính cải thiện đáng kể. 
Hiện nay, 100% các bộ, tỉnh đã có website hoặc cổng thông tin điện tử với cấu trúc và nội dung cung cấp được chuẩn hóa theo Nghị định 43/2011/NĐ-CP. Hầu hết các dịch vụ công trực tuyến đã được cung cấp ở mức độ 1, 2. Số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 ngày càng tăng. 
Các cơ quan tiêu biểu có số lượng hồ sơ tiếp nhận và giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến lớn phải kể đến là: Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, các TP. Đà Nẵng, TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Thanh hóa, Thừa Thiên – Huế, Tiền Giang. 
Ông Nguyễn Thành Phúc chia sẻ điển hình tại Tổng cục Hải quan, nhờ việc ứng dụng hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS mà thời gian đăng ký tờ khai hải quan chỉ còn 3 giây, giải phóng hàng đối với hàng nhập khẩu đã giảm 7,6 giờ (18%). Thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp đăng ký tờ khai đến khi quyết định thông quan đối với hàng xuất khẩu giảm 9,6 giờ (58%). Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã xây dựng được kho dữ liệu người nộp thuế, lưu trữ tập trung các đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp, cá nhân và hàng trăm chỉ tiêu quản lý được cập nhật hàng ngày. Số lượng người kê khai nộp thuế qua mạng đến nay có hơn 485.000 và gần 20 triệu hồ sơ thuế điện tử đã nhận vào hệ thống quản lý thuế. Hầu hết các tờ khai thuế đã được điện tử hóa. Từ ngày 1/5/2015, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giao dịch điện tử trong thủ tục BHXH, BHYT, BHTN và cấp sổ BHXH, thẻ BHYT. Đến cuối năm 2015, dự kiến cơ quan này sẽ giảm được số giờ thực hiện thủ tục xuống còn 49,5 giờ, bằng với mức bình quân của các nước ASEAN-6. 
Bằng những nỗ lực của các doanh nghiệp CNTT và sự tích cực ứng dụng CNTT của các bộ, ngành địa phương đã đưa ngành CNTT tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng 16% (năm 2014), thuộc vào top 5 nước tăng trưởng CNTT nhanh nhất thế giới, đứng đầu thế giới trong lĩnh vực dịch vụ phần mềm thuê ngoài.
Theo bảng xếp hạng Chính phủ điện tử năm 2014 do Liên Hợp Quốc công bố, thứ hạng của Việt Nam vẫn tụt 19 bậc, xếp thứ 99 trên thế giới. Ngoài những nguyên nhân do thay đổi cách tính của Liên Hợp Quốc về nguồn nhân lực và quản lý hạ tầng thì còn một nguyên nhân nữa làm tụt hạng là do sự suy giảm chỉ số dịch vụ công trực tuyến. 
Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2013, Việt Nam có trên 104.000 dịch vụ công trực tuyến, trong đó dịch vụ mức độ 1 (bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định về thủ tục hành chính đó) và mức độ 2 (cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu) vãn chiếm số lượng rất lớn với 101.829 dịch vụ. Trong khi đó, dịch vụ mức độ 3 (cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ; các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng) và mức độ 4 (cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí trực tuyến và việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến) chiếm số lượng rất ít. Cụ thể, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 là 2.366 dịch vụ, mức độ 4 mới chỉ có 111 dịch vụ. 
Phát biểu tại một sự kiện lớn của ngành CNTT diễn ra mới đây, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, việc chỉ số dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam bị tụt hạng trong bảng xếp hạng của Liên Hợp Quốc như vậy khiến Chính phủ và ngay cả các bộ, ban ngành cũng không thể hài lòng. Bản thân việc chưa có số liệu thống kê nào cập nhật mới hơn thời điểm năm 2013 về số lượng dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam cũng là vấn đề đáng lưu tâm. Đã là công nghệ thì phải nhanh, nhưng chúng ta không chỉ chậm trong ứng dụng CNTT mà việc xác định kết quả của ứng dụng cũng không được cập nhật kịp thời. Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ cho thấy phải có chính sách thúc đẩy mạnh mẽ, có lộ trình cụ thể buộc các bộ, ngành, cơ quan nhà nước phải ứng dụng CNTT với sự tham gia của DN. 
Theo lộ trình của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến, đến năm 2020, hầu hết các thủ tục hành chính sẽ được triển khai ở mức độ 3. Đồng thời, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 sẽ được cung cấp đối với 50% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 thực hiện năm 2015, người dân có thể tra cứu và đăng ký sử dụng trên các thiết bị di động. Thời gian đang vô cùng gấp rút, vì vậy, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến là bước làm cần thiết và cần phải tăng tốc trong giai đoạn hiện nay, tạo sự bứt phá trong cải cách thủ tục hành chính công. 
Cần lấy người dân làm trung tâm 
Là một địa phương được đánh giá cao về mức độ ứng dụng CNTT, việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến đã được TP. Hà Nội quan tâm để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, công dân. Hiện nay, TP. Hà Nội đã triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với 9/10 nhóm dịch vụ công cơ bản theo Quyết định 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ. 
Tổng số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đang áp dụng trên địa bàn thành phố là 295 dịch vụ, trong đó, có 78 dịch vụ công mức độ 4. Dự kiến, đến hết năm 2015, TP. Hà Nội sẽ có thêm 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, nâng tổng số dịch vụ công mức độ 3 là 332, chiếm gần 14% tổng số thủ tục hành chính của thành phố. 
Tuy nhiên, tại hội nghị đánh giá hiệu quả triển khai dịch vụ công trực tuyến của TP. Hà Nội diễn ra đầu tháng 7 vừa qua, ông Nguyễn Xuân Quang, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội đánh giá, việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại các cơ quan chà nước của thành phố không đồng đều. Nhiều dịch vụ công trực tuyến tại các đơn vị đã được đầu tư nhưng chưa được khai thác, sử dụng hiệu quả, tỷ lệ hồ sơ giao dịch trực tuyến còn thấp. Chỉ một số ít đơn vị có lượng hồ sơ giao dịch trực tuyến lớn, như Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an TP... 
Nguyên nhân việc triển khai các dịch vụ công trực tuyến chưa thực sự hiệu quả trong thời gian qua là do chưa lựa chọn đúng thủ tục để thực hiện, đó là những thủ tục không có nhu cầu giao dịch lớn, thủ tục chưa thật đơn giản, tính ổn định của thủ tục không cao, đối tượng thực hiện thủ tục không thông thạo CNTT… Ngoài ra, công tác tuyên truyền chưa hiệu quả, phần lớn người dân, tổ chức chưa biết tới các dịch vụ công trực tuyến của thành phố. Người dân vẫn có thói quen đến trực tiếp các cơ quan nhà nước để giao dịch hành chính. Các đơn vị đăng ký triển khai dịch vụ công trực tuyến mới chỉ chú trọng về số lượng, chưa quan tâm đến những yếu tố để đảm bảo dịch vụ đó sẽ được triển khai thành công. Một số phần mềm dịch vụ công trực tuyến còn phức tạp, chưa thực sự thuận tiện và dễ sử dụng… Công tác thông tin tuyên truyền cần được chú trọng hơn nữa để người dân biết và hiểu rõ những tiện ích của các dịch vụ này. Đồng thời, các hệ thống chính sách cần hoàn thiện, đảm bảo tính ổn định, lâu dài, thống nhất về quy chuẩn kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bỗ giữa các dịch vụ, phụ vụ sự kết nối liên thông. 
Lý giải một trong các nguyên nhân khiến thiếu vắng các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cả về số lượng và hiệu quả sử dụng hiện nay, ông Nguyễn Thành Phúc cho rằng một số cán bộ lãnh đạo của một số địa phương vẫn còn chưa chỉ đạo sát sao, quyết liệt hoạt động ứng dụng CNTT. Nhiều cán bộ công chức chưa có thói quen, kỹ năng ứng dụng CNTT và chưa hình thành văn hóa chia sẻ thông tin. Các cơ sở dữ liệu quốc gia tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử chậm được triển khai, nhất là cơ sở dữ liệu dân cư liên quan hộ tịch, lao động, bảo hiểm, y tế, giáo dục... 
Ngoài ra, các vấn đề liên quan tới an toàn thông tin còn có hạn chế, gây lo ngại cho công tác ứng dụng CNTT. Kinh phí cho ứng dụng CNTT chưa đáp ứng nhu cầu. Nhiều cơ quan còn chưa tận dụng triệt để các điều kiện hiện có để trao đổi, xử lý văn bản điện tử, cũng như chưa tạo lập được môi trường chia sẻ thông tin qua mạng rộng khắp giữa các cơ quan. Hiệu suất của các hệ thống thông tin triển khai dịch vụ công trực tuyến còn thấp, số lượng người dân truy cập sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 còn thấp. Đây cũng là một trong những lý do khiến các nhà quản lý “ngại” triển khai các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao. 
Để đẩy mạnh hiệu quả triển khai các dịch vụ công trực tuyến, ông Nguyễn Thành Phúc cho rằng cần phải có bước thay đổi mạnh mẽ về nhận thức, chuyển từ suy nghĩ coi cơ quan nhà nước là trung tâm sang coi người dân làm trung tâm để nhằm mục tiêu phục vụ người dân. Muốn như vậy, các dịch vụ công trực tuyến được phát triển phải dễ sử dụng, tin cậy, an toàn và giúp giảm số lần người dân đến trực tiếp cơ quan chính quyền. Đặc biệt, người dân chỉ cung cấp thông tin cá nhân một lần cho cơ quan nhà nước khi làm thủ tục hành chính. Theo định hướng đến năm 2018, chỉ số phát triển chính phủ điện tử tương đương mức bình quân của các nước trong khu vực ASEAN+4. Việc tích hợp, kết nối các hệ thống thông tin trên quy mô quốc gia sẽ được thiết lập, tạo lập môi trường chia sẻ thông tin trên diện rộng, tuân thủ kiến trúc Chính phủ điện tử quốc gia và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Để đẩy mạnh ứng ụng CNTT không chỉ cần có các chính sách mà cần cả sự thay đổi tư duy từ cơ quan nhà nước cũng như cộng đồng DN. Chính phủ cần đề ra các quy định bắt buộc, có lộ trình cụ thể về cung cấp dịch vụ công. Một khi cơ quan nhà nước các cấp đứng trước một đòi hỏi mang tính bắt buộc là phải cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 cùng cơ chế cho thuê dịch vụ CNTT thì bài toán sẽ được giải quyết, dựa trên tinh thần mạnh mẽ đổi mới gắn liền với minh bạch, cụ thể và có lộ trình mang tính bắt buộc. 
(Thanh Huyền)