Công nghệ thông tin - Xương sống hiện đại hóa kho bạc

Thực hiện chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước (KBNN) đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007, KBNN đã xây dựng và trình phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) 5 năm giai đoạn 2011-2015, đề án hiện đại hóa ứng dụng CNTT đến năm 2020. Tạp chí Tài chính điện tử xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của bản đề án hiện đại hóa ứng dụng CNTT đến năm 2020.

Ảnh nguồn Internet.Ảnh nguồn Internet.

Những điểm nhấn trong CNTT

Trong thời gian qua, KBNN đã xây dựng được hệ thống ứng dụng phục vụ chủ yếu cho công tác quản lý quỹ NSNN, quỹ tài chính nhà nước và các quỹ nhà nước giao KBNN quản lý, công tác kế toán NSNN và hoạt động nghiệp vụ KBNN và công tác thanh toán giữa các đơn vị trong hệ thống KBNN và với các ngân hàng, phục vụ một phần công tác quản lý nội bộ KBNN (tài chính kế toán nội bộ, quản lý cán bộ, văn bản điện tử...).

Việc phát triển các chương trình ứng dụng đang chuyển dần từ mô hình phân tán cơ sở dữ liệu (CSDL) ở từng đơn vị KBNN sang mô hình CSDL tập trung tại Trung ương đã và đang là cơ sở cho việc tổng hợp thông tin một cách nhanh chóng. Trong quá trình xây dựng và triển khai các chương trình ứng dụng, thông qua tác động của công nghệ, nhiều quy trình tác nghiệp đã được cải tiến, đổi mới nhằm rút ngắn thời gian thực hiện và đơn giản hóa nhiều khâu công việc góp phần đẩy nhanh tốc độ xử lý và cải cách thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, KBNN đã thiết lập hệ thống hạ tầng CNTT tương đối mạnh, tạo cơ sở cho việc ứng dụng các chương trình phần mềm: Hệ thống máy chủ, máy trạm, máy in, thiết bị  tin học đã được kết nối và hình thành nên một mạng diện rộng ngành KBNN, kết nối tất cả các mạng cục bộ của các đơn vị KBNN cấp huyện, tỉnh và Trung ương trên cơ sở mạng truyền thông thống nhất ngành Tài chính tốc độ cao, từ đó tạo ra một cơ sở hạ tầng vững chắc cho việc vận hành các chương trình phần mềm ứng dụng của ngành.

Với việc hình thành Trung tâm dữ liệu tập trung hiện đại đặt tại trụ sở cơ quan KBNN, cùng với chiến lược xây dựng các ứng dụng sử dụng CSDL tập trung đặt tại Trung tâm dữ liệu thì khả năng sẵn sàng của hệ thống CNTT KBNN cho vận hành một hệ thống quản lý hiện đại đang dần được cải thiện. KBNN cấp tỉnh là trung tâm truyền thông ngành Tài chính cho các đơn vị cấp tỉnh, cấp huyện với việc đầu tư hệ thống nguồn tập trung 24/24 và các điều kiện khác đã không chỉ tạo cơ sở hạ tầng truyền thông để các chương trình của KBNN vận hành ổn định mà còn đáp ứng yêu cầu sẵn sàng về truyền thông của toàn ngành Tài chính.

Từng bước hình thành đội ngũ cán bộ tin học từ Trung ương đến địa phương vừa nắm vững CNTT vừa am hiểu nghiệp vụ KBNN. Đội ngũ cán bộ CNTT của KBNN đã chủ trì xây dựng, triển khai và duy trì vận hành nhiều hệ thống chương trình ứng dụng, hệ thống mạng, và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của ngành.

Đặc biệt, cán bộ CNTT KBNN trực tiếp tự xây dựng, triển khai chương trình quản lý ngân sách và hoạt động nghiệp vụ KBNN trên nền tảng cơ sở dữ liệu Oracle. Trong nhiều năm gần đây, mỗi khi triển khai chương trình ứng dụng thì đội ngũ làm CNTT ở KBNN tỉnh đủ năng lực để tự triển khai sau khi được tập huấn, hướng dẫn (Trung ương không phải đến từng địa phương triển khai). Đội ngũ cán bộ tin học ở Trung ương cùng các cán bộ tin học chủ chốt ở cấp tỉnh đang bắt đầu tiếp cận và dần dần tiến đến làm chủ các hệ thống công nghệ triển khai theo mô hình tập trung.

Định hướng ứng dụng CNTT

Thực hiện mục tiêu chung là xây dựng nền hành chính công phục vụ người dân và doanh nghiệp, KBNN đang tăng cường nghiên cứu và triển khai các dịch vụ công điện tử, từ đó tạo ra các kênh giao dịch và kênh thông tin trực tuyến giữa KBNN với các tổ chức, cá nhân có quan hệ với ngân sách Nhà nước (NSNN).

Các dịch vụ công điện tử mà KBNN cung cấp sẽ xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của KBNN trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ. Một số dịch vụ công điển hình cần thực hiện được nêu trong Quyết định 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015.

Ngoài ra còn có dịch vụ công khác như thu thập thông tin dự báo dòng tiền từ các đơn vị có quan hệ với ngân sách phục vụ chức năng quản lý ngân quỹ, thu thập thông tin kế toán nhà nước từ các đơn vị, tổ chức thuộc hệ thống kế toán nhà nước phục vụ chức năng tổng kế toán...

Triển khai đầy đủ toàn diện các hệ thống phục vụ hoạt động nghiệp vụ và quản trị nội bộ KBNN: Tập trung xây dựng và triển khai đầy đủ toàn diện các bài toán phục vụ các chức năng, nhiệm vụ của KBNN: quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quản lý ngân quỹ, tổng kế toán nhà nước, kế toán, thanh toán, huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển, trên cơ sở đó hình thành kho dữ liệu phục vụ thống kê, phân tích nghiệp vụ KBNN.

Ứng dụng CNTT cho tất cả các mảng hoạt động quản trị nội bộ KBNN, toàn bộ các hoạt động liên quan đến quản lý điều hành nội bộ của KBNN thực hiện trên môi trường mạng, trên cơ sở đó hình thành kho dữ liệu phục vụ thống kê, phân tích nội bộ KBNN

Tăng cường kết nối, tích hợp và trao đổi thông tin: Liên kết, tích hợp, trao đổi thông tin giữa các ứng dụng CNTT trong nội bộ KBNN, giữa KBNN với các đơn vị có liên quan sẽ được thực hiện thông qua một trục tích hợp ứng dụng của hệ thống KBNN. Trục tích hợp ứng dụng này sẽ đảm bảo cho quá trình liên kết các quy trình có sự liên quan chặt chẽ với nhau, hình thành một chuỗi các quy trình nghiệp vụ được ứng dụng CNTT một cách đầy đủ, hiệu quả, hướng đến mục tiêu đồng bộ, chia sẻ, tái sử dụng thông tin giữa các ứng dụng trong các mảng nghiệp vụ khác nhau trong nội bộ hệ thống KBNN cũng như giữa KBNN với các đơn vị có liên quan.

Xây dựng các hệ thống CNTT theo hướng tập trung: Hệ thống CNTT KBNN sẽ được xây dựng, chuyển đổi theo mô hình tập trung, tạo cơ sở để thực hiện các giao dịch một cách trực tuyến, tổng hợp số liệu nhanh chóng phục vụ cho công tác quản lý và điều hành. Tập trung hóa cũng là nền tảng để triển khai việc liên kết, tích hợp và trao đổi thông tin giữa các ứng dụng CNTT, điều chỉnh và hình thành nên các quy trình nghiệp vụ hoàn toàn dựa trên nền tảng ứng dụng CNTT hiện đại.

Tối ưu hóa hạ tầng công nghệ: Tối ưu hóa hạ tầng công nghệ theo xu hướng ảo hóa và điện toán đám mây cho phép triển khai nhiều hệ thống ứng dụng CNTT trên cùng một nền tảng phần cứng. Công nghệ ảo hóa và điện toán đám mây cho phép tối ưu hóa việc sử dụng năng lực phần cứng của các hệ thống ứng dụng CNTT, nâng cao tính linh hoạt của hạ tầng CNTT, phản ứng nhanh chóng, kịp thời để đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi của các hoạt động nghiệp vụ, nhu cầu phát triển mở rộng của hệ thống CNTT.

Chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ: Đội ngũ cán bộ CNTT của KBNN được chuyên môn hóa theo các vị trí công việc và thực hiện xây dựng, triển khai, quản trị, vận hành hệ thống CNTT theo quy trình được chuẩn hóa; đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và điều hành có đầy đủ năng lực để khai thác, sử dụng các hệ thống ứng dụng CNTT hiện đại. Hình thành các bộ phận chuyên trách về hỗ trợ ứng dụng tập trung toàn ngành, bộ phận an toàn thông tin của KBNN

Những mục tiêu dài hơi

Đến năm 2015, KBNN sẽ cung cấp đầy đủ thông tin cho các cơ quan, đơn vị là khách hàng của Kho bạc nhà nước và các đối tượng quan tâm đến hoạt động của KBNN. Cung cấp các dịch vụ công điện tử cho các đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư, người nộp thuế (doanh nghiệp và người dân) từ đó tạo cơ sở bước đầu cho việc hình thành Kho bạc điện tử đến năm 2020. Ứng dụng CNTT đầy đủ toàn diện, hiệu quả, an toàn bảo mật trong các chức năng cơ bản của KBNN, từng bước hiện đại hóa quản lý và điều hành nội bộ hệ thống KBNN. Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại. Tối ưu hóa hạ tầng công nghệ đáp ứng linh hoạt, hiệu quả yêu cầu phát triển mở rộng. Hoàn thiện các quy định cho triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

Hiện đại hóa công tác thanh toán: Nâng cấp, mở rộng hệ thống thanh toán song phương và trao đổi thông tin thanh toán song phương với các ngân hàng thương mại nhằm từng bước tập trung ngân quỹ KBNN, nâng cao khả năng thanh khoản của hệ thống KBNN, đảm bảo xử lý các giao dịch thanh toán nhanh chóng, kịp thời, quản lý ngân quỹ KBNN vừa an toàn, vừa hiệu quả.

Mở rộng triển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng đến các KBNN tỉnh, thành phố nhằm hiện đại hóa hệ thống thanh toán của KBNN, nâng cao khả năng thanh khoản của hệ thống KBNN, đảm bảo xử lý các giao dịch thanh toán nhanh chóng, kịp thời.

Nâng cấp chương trình thanh toán điện tử liên kho bạc theo hướng tập trung hoàn toàn và tích hợp chặt chẽ với hệ thống TABMIS đảm bảo kế toán - thanh toán là một thể thống nhất, đẩy nhanh tiến độ các giao dịch thanh toán trong nội bộ hệ thống KBNN và góp phần kết nối sang thanh toán điện tử song phương, điện tử liên ngân hàng, hình thành các kênh thanh toán điện tử tập trung, hiện đại, nhanh chóng. Mở rộng hệ thống trao đổi thông tin thu NSNN với các ngân hàng thương mại nhằm nhanh chóng tập trung các khoản thu vào ngân sách nhà nước, tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, áp dụng chữ ký số điện tử theo Luật Giao dịch điện tử.

Hoàn thiện các hệ thống kiểm soát chi NSNN: Nâng cấp, xây dựng hệ thống kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư, vốn chương trình mục tiêu đầu tư xây dựng theo mô hình tập trung toàn ngành tài chính, giao diện và tích hợp chặt chẽ với hệ thống TABMIS, hình thành một hệ thống các ứng dụng kiểm soát chi NSNN một cách đầy đủ, toàn diện, tự động hóa cao, làm hạt nhân cho hệ thống thông tin tài chính tích hợp GFMIS.

Nâng cấp ứng dụng KTKB theo mô hình CSDL và ứng dụng đặt tại KBNN tỉnh, thành phố và sử dụng phục vụ cho yêu cầu kế toán chi tiết cho khối An ninh quốc phòng của KBNN tỉnh và các KBNN huyện trực thuộc, cho phép giao diện với TABMIS để giảm công sức nhập liệu đối với số liệu dự toán và chi an ninh quốc phòng, đảm bảo nhất quán 2 hệ thống, không phải đầu tư máy chủ và thiết bị lưu trữ cho KBNN huyện.

Thực hiện công tác quản lý ngân quỹ nhà nước và tổng kế toán nhà nước trên cơ sở CNTT hiện đại: Hệ thống quản lý ngân quỹ bao gồm các chức năng lớn: phân hệ cho phép thu thập thông tin dữ liệu về số dự kiến thu, dự kiến chi, số thu và số chi từ các nguồn như đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán các cấp, từ cơ quan thu, từ các hệ thống liên quan của KBNN; phân hệ phân tích số liệu và dự báo dòng tiền; phân hệ quản lý rủi ro ngân quỹ và phân hệ gồm các chức năng liên quan đến công tác đầu tư ngân quỹ. KBNN sẽ tập trung thực hiện nâng cấp và xây dựng, triển khai phân hệ cho phép thu thập thông tin dữ liệu về số dự kiến thu, dự kiến chi, số thu và số chi từ các nguồn như đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán các cấp, từ cơ quan thu, từ các hệ thống liên quan của KBNN; phân hệ phân tích số liệu và dự báo dòng tiền làm cơ sở cho việc bắt đầu thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ của KBNN.

Xây dựng và triển khai hệ thống ứng dụng phục vụ công tác tổng kế toán nhà nước: thu thập thông tin số liệu kế toán nhà nước từ các đơn vị có quan hệ với ngân sách, tiếp nhận số liệu từ hệ thống kế toán ngân sách, tổng hợp và hình thành các báo cáo của tổng kế toán phục vụ công tác quản lý.

Hình thành kho dữ liệu nghiệp vụ KBNN và các công cụ, thống kê phân tích: Kho dữ liệu xây dựng cùng dự án TABMIS là kho dữ liệu liên quan đến thu chi NSNN. Kho dữ liệu này đã có số liệu tiếp nhận từ TABMIS và đã cung cấp từ kho sang kho dữ liệu tài chính của Bộ. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của công tác thống kê nghiệp vụ KBNN thì nguồn dữ liệu từ TABMIS chưa đầy đủ, cần bổ sung nguồn dữ liệu từ các mảng nghiệp vụ KBNN như kiểm soát chi đầu tư XDCB, chương trình mục tiêu, vốn sự nghiệp, quản lý thu, dữ liệu thanh toán... nhằm phục vụ tốt hơn chế độ thống kê nghiệp vụ KBNN và cung cấp đầy đủ thông tin cho kho dữ liệu tài chính của Bộ. KBNN thực hiện nâng cấp kho dữ liệu đã xây dựng theo dự án TABMIS theo dõi dữ liệu về thu chi NSNN trong khuôn khổ TABMIS thành kho dữ liệu phục vụ thống kê, phân tích nghiệp vụ KBNN và cung cấp dữ liệu cho kho dữ liệu của Bộ Tài chính.

Tăng cường quản lý và điều hành nội ngành: TABMIS được triển khai và vận hành theo mô hình tập trung tại TW với mục tiêu quản lý thông tin về quá trình thực thi ngân sách từ khâu phân bổ ngân sách, thu, chi, cam kết chi, kế toán NSNN. Đây là nguồn số liệu quan trọng không chỉ cho công tác quản lý NSNN mà còn là kênh phục vụ cho kênh kiểm tra, kiểm soát, giám sát của bộ phận thanh tra KBNN các cấp. Nhiệm vụ của kiểm tra, kiểm soát quỹ NSNN là trên cơ sở số liệu từ hệ thống sẽ tiến hành chiết suất theo các yêu cầu của nghiệp vụ giám sát, kiểm tra, kiểm soát và thực hiện từ xa trước khi đi kiểm tra kiểm soát tại các đơn vị cơ sở. Yêu cầu đặt ra là cần có công cụ để thực hiện việc phân tích số liệu về quản lý quỹ NSNN. KBNN thực nâng cấp mở rộng ứng dụng đã có về giám sát từ xa để thực hiện giám sát từ xa về quỹ NSNN.

Xây dựng và triển khai hệ thống ứng dụng phục vụ công tác kiểm toán nội bộ, thanh tra, quản lý rủi ro phục vụ kiểm toán và thanh tra. Hoàn thiện các ứng dụng phục vụ công tác giám sát từ xa công tác quản lý chi XDCB và chương chương mục tiêu, giám sát từ xa công tác quản lý kho - quỹ

Hình thành và triển khai các dịch vụ công điện tử, phục vụ đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư và các đơn vị khác có giao dịch với KBNN: Xây dựng và cung cấp các dịch vụ công điện tử về mở và sử dụng tài khoản tại KBNN, về kiểm soát chi 1 cửa, về yêu cầu chi ngân sách nhà nước điện tử... cho các đơn vị có giao dịch với KBNN để thực hiện các quy trình giao dịch điện tử giữa KBNN với các đơn vị; đồng thời cung cấp các dịch vụ công liên quan đến thu thập thông tin dự báo dòng tiền, dữ liệu dự toán chi ngân sách nhà nước, cam kết chi NSNN... từ đó góp phần hình thành kho bạc điện tử, điện tử hóa các giao diện giữa khách hàng của KBNN với hệ thống KBNN.

Tăng cường hạ tầng công nghệ thông tin: Tập trung hạ tầng tại Trung ương và một phần tại KBNN cấp tỉnh theo mô hình ảo hóa, nhằm sử dụng tối ưu hạ tầng CNTT, tại các KBNN cấp huyện chỉ sử dụng các thiết bị cho người dùng như máy trạm, máy in và một số thiết bị kết nối về trung tâm tỉnh. Tiến tới hình thành hệ thống hạ tầng vận hành theo mô hình điện toán đám mây tại Trung ương, tạo cơ sở cho các bài toán ứng dụng vận hành một cách hiệu quả, tận dụng sức mạnh của hạ tầng tùy theo từng nhu cầu của các bài toán trong các thời điểm khác nhau của năm ngân sách.

Giải pháp thực hiện

KBNN sẽ huy động các nguồn lực để triển khai các đề án, dự án ứng dụng CNTT với quan điểm ứng dụng CNTT là nền tảng để thực hiện chiến lược phát triển kho bạc nhà nước; Thực hiện đầu tư ban đầu để triển khai các đề án, dự án, đồng thời đầu tư thường xuyên để duy trì, bảo trì, vận hành các hệ thống.

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận CNTT tại Trung ương và cấp tỉnh; Đào tạo về quản lý, quản trị quá trình triển khai dự án ứng dụng CNTT và tăng cường phát huy vai trò cho các cán bộ quản lý, cán bộ chủ chốt thuộc các lĩnh vực nghiệp vụ khi tham gia quá trình ứng dụng CNTT; Tăng cường đào tạo kỹ năng về ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ, công chức của hệ thống; Bồi dưỡng, đào tạo chuyên sâu CNTT cho cán bộ, công chức chuyên trách về công nghệ thông tin theo vị trí công việc; Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin cho lãnh đạo các cấp.

Hình thành bộ máy mềm về triển khai làm đầu mối triển khai các dự án ứng dụng CNTT; Kết hợp chặt chẽ kế hoạch ứng dụng CNTT 2011-2015 với kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược phát triển kho bạc Nhà nước đến năm 2020 và kế hoạch cải cách hành chính của KBNN; Tăng cường công tác cải tiến quy trình làm việc, quy trình phối hợp, chuẩn hóa nghiệp vụ để có thể ứng dụng công nghệ thông tin.

Xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn, quy định về ứng dụng CNTT trên cơ sở các chính sách, cơ chế về CNTT chung của nhà nước và của Bộ Tài chính; Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chính sách, quy định ưu đãi thích hợp cho cán bộ, công chức chuyên trách về công nghệ thông tin gắn với cơ chế tài chính của KBNN trong từng giai đoạn.

Thực hiện các nội dung về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kho bạc theo Kế hoạch tổng thể về hợp tác quốc tế đến năm 2020 của KBNN, trong đó chú trọng lĩnh vực ứng dụng CNTT; Tăng cường các hoạt động tìm hiểu thực tế mô hình triển khai ứng dụng CNTT tại các Kho bạc các nước có mô hình nghiệp vụ và chức năng tương đồng với KBNN Việt Nam; Học tập kinh nghiệm triển khai của các đơn vị trong nước đặc biệt là các đơn vị trong ngành tài chính và hệ thống ngân hàng.

(Bùi Thế Phương, Cục trưởng, Cục CNTT - Kho bạc Nhà nước)