Kết nối không dây là nguyên nhân khiến lưu lượng IP toàn cầu tăng vọt

Tới năm 2019, lưu lượng IP video sẽ chiếm 80% toàn bộ lưu lượng IP toàn cầu; Hơn hai phần ba lưu lượng IP toàn cầu sẽ phát sinh từ các kết nối không dây, bao gồm cả kết nối Wi-Fi.

Tới năm 2019, lượng lưu lượng đi qua các mạng IP toàn cầu sẽ ngang bằng "toàn bộ lưu lượng Internet trước đây”.Tới năm 2019, lượng lưu lượng đi qua các mạng IP toàn cầu sẽ ngang bằng "toàn bộ lưu lượng Internet trước đây”.

Đó là những thông tin nổi bật trong Dự báo Chỉ số tăng trưởng mạng (VNI) hàng năm của Cisco lần thứ 10 (the 10th annual Cisco® Visual Networking Index™ [VNI] Forecast), vừa được hãng này công bố hôm nay (25/6/2015).

Theo Dự báo này, trong giai đoạn từ 2014 đến 2019, lưu lượng IP (Internet Protocol - Giao thức Internet) hàng năm sẽ tăng gấp ba lần và sẽ đạt mức kỷ lục là 2 zettabytes. Tới năm 2019, lượng lưu lượng đi qua các mạng IP toàn cầu sẽ ngang bằng "toàn bộ lưu lượng Internet trước đây” (từ năm 1984 đến cuối năm 2013).

Khu vực Trung Đông và châu Phi được dự báo có lưu lượng IP phát triển nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 44%. Tuy nhiên, lưu lượng IP hàng tháng của khu vực này chỉ là 9,4 exabytes.

Trong khi đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo ra nhiều lưu lượng IP nhất với 54,4 exabytes mỗi tháng, phát triển CAGR ở mức 21%.

Có cùng mức CAGR với khu vực châu Á - Thái Bình Dương nhưng Tây Âu được dự đoán chỉ tạo ra khoảng 24,7 exabytes mỗi tháng.

Lưu lượng IP ở Mỹ Latinh sẽ đạt 12,9 exabyte mỗi tháng và CAGR đạt 25%.

Trung và Đông Âu sẽ phát triển CAGR ở mức 33% và tạo ra khoảng 16,9 exabytes mỗi tháng.

Theo Cisco, các nhân tố góp phần tạo ra sự tăng trưởng lưu lượng này bao gồm sự gia tăng trên phạm vi toàn cầu về số người dùng Internet, các thiết bị cá nhân và kết nối giữa máy móc với nhau (machine-to-machine - M2M), tốc độ băng rộng lớn hơn và hoạt động ứng dụng các dịch vụ video tiên tiến. Những nhân tố này sẽ dẫn đến tốc độ tăng trưởng gộp hàng năm (compound annual growth rate - CAGR) của lưu lượng IP toàn cầu ở mức 23% - mức tăng trưởng CAGR trên phạm vi toàn cầu cao nhất trong loạt dự báo VNI liên tiếp trong suốt gần một thập kỷ (ví dụ như, CAGR theo dự báo vào năm ngoái cho giai đoạn 2013 - 2018 chỉ ở mức 21%).

Cũng theo Dự báo của Cisco, ước tính đến cuối năm 2019, lưu lượng di động và WiFi sẽ chiếm khoảng 2/3 tổng lưu lượng IP. Cụ thể, WiFi chiếm khoảng 53% tổng lưu lượng IP, các kết nối di động là hơn 14%, còn lại 33% là lưu lượng cố định. Trong khi, năm 2014, các kết nối cố định chiếm 54% lưu lượng IP; WiFi chỉ chiếm 42% và di động là 4%.

Ngoài ra, trên toàn cầu sẽ có 24 tỷ thiết bị kết nối mạng vào năm 2019, so với 14 tỷ trong năm 2014. Những thiết bị này bao gồm máy tính bảng, điện thoại thông minh và Internet TV có độ phân giải UHD cũng như là các kết nối M2M và những thiết bị có thể đeo/mặc trên người (wearables) như đồng hồ thông minh, thiết bị theo dõi sức khỏe... Tới năm 2019, trung bình mỗi người sẽ sở hữu 3,2 thiết bị kết nối mạng, trong khi năm 2014, tỷ lệ này là 2 thiết bị/người.

"Những thiết bị và kết nối tiên tiến này sẽ phải được xác thực mới có thể truy cập vào mạng cố định và di động, và chức năng xác thực đó đòi hỏi phải có thông tin, chức năng quản lý mạng và bảo mật tiên tiến. Do đó, để đáp ứng được số lượng và độ phức tạp của các thiết bị và kết nối mạng mới, các nhà mạng viễn thông cần có một chiến lược IPv6 toàn diện", đại diện Cisco chia sẻ...

Dự báo VNI toàn cầu và Nghiên cứu ứng dụng dịch vụ của Cisco (The Cisco VNI Global Forecast and Service Adoption study) trong giai đoạn từ 2014 đến 2019 dựa trên các dự báo của các chuyên gia phân tích thị trường độc lập và các nghiên cứu thực tế về mức độ sử dụng dữ liệu di động. Trên cơ sở đó, Cisco xây dựng những dự báo về lưu lượng IP và mức độ ứng dụng dịch vụ toàn cầu. Trong suốt quá trình 10 năm thực hiện, nghiên cứu VNI của Cisco đã trở thành một "thước đo tốc độ" tăng trưởng của mạng Internet. Các chính phủ, cơ quan quản lý mạng, các nhà nghiên cứu, công ty viễn thông, chuyên gia công nghệ cũng như là các phóng viên và chuyên gia phân tích thị trường công nghệ/kinh doanh sử dụng các kết quả nghiên cứu hàng năm này để hoạch định tương lai kỹ thuật số. 

(GN)