“Nóng” cùng Đề án Tăng tốc

 (Tạp chí Tài chính Điện tử số 79 ngày 15/1/2010) - Dự thảo Đề án “Tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT” (gọi tắt là Đề án Tăng tốc) do Bộ Thông tin & Truyền thông (TT&TT) soạn thảo đã và đang là chủ đề “nóng” làm tốn khá nhiều giấy mực của các phương tiện truyền thông đại chúng trong suốt thời gian qua.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Dự kiến ban đầu thì trong quý IV/2009, Dự thảo này sẽ được Thủ tướng ký duyệt. Nhưng với thực tế còn có quá nhiều ý kiến trái chiều, phản biện, thậm chí có chuyên gia thẳng thắn đề nghị Thủ tướng yêu cầu Bộ Thông tin & Truyền thông xây dựng lại Dự thảo theo hướng khác thì có vẻ như “đường về đích” của Đề án Tăng tốc còn khá nhiều trắc trở, gập ghềnh.

Nhiều mục tiêu xa vời, khó khả thi

Không thể phủ nhận rằng xây dựng Đề án “Tăng tốc sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT” là công việc hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay. Thậm chí, có ý kiến khẳng định trở thành quốc gia mạnh về CNTT là đòi hỏi cấp thiết, là con đường nhanh nhất giúp Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng tài chính một cách hiệu quả và bền vững. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan thì việc xác định mục tiêu để tăng tốc không hề đơn giản. Dù rằng Ban Soạn thảo Dự thảo Đề án Tăng tốc đã rất tích cực “tăng tốc” chỉnh sửa, song vẫn chưa có được một sản phẩm hoàn thiện như ý muốn.

Theo GS.TSKH Nguyễn Xuân Quỳnh, Dự thảo Đề án Tăng tốc là công trình nghiêm túc, chặt chẽ, hợp lý, phong phú, nhưng nội dung ôm đồm quá, nhiều mục tiêu rất cao, thậm chí trở thành xa vời. Ví dụ, Dự thảo Đề án Tăng tốc đề ra mục tiêu “đến năm 2015, Việt Nam trở thành một địa chỉ gia công phần mềm hấp dẫn nhất thế giới”, trong khi nhìn vào hiện trạng thì thấy chưa có tiền đề nào về nhân lực, công nghiệp phần cứng lại vẫn ở con số không, khiến cho đa số người đọc đều cảm thấy rất khó đạt được mục tiêu này.

Bên cạnh đó, lại có những mục tiêu lại chưa cụ thể. Chẳng hạn, “đến năm 2020, hầu hết các hộ gia đình có máy thu hình” là mục tiêu không rõ ràng và hơi “chậm tiến”. “Phải phấn đấu để năm 2020, dù không phát triển CNTT thì 100% hộ gia đình có máy thu hình vì đây là nhu cầu văn hoá tối thiểu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nếu không sản xuất trong nước thì phải mua, thậm chí người dân buôn lậu qua biên giới”, ông Quỳnh nhấn mạnh.

Cùng chung quan điểm cho rằng Dự thảo Đề án Tăng tốc đề ra nhiều mục tiêu quá cao, khó khả thi, TS. Nguyễn Quân - Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ dẫn chứng về mục tiêu “đến năm 2015, tổng doanh thu lĩnh vực CNTT Việt Nam đạt 17 - 20% GDP và đến năm 2020 đạt 20 - 23% GDP”. Ông Quân phân tích, nếu giả thiết rằng sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, từ năm 2011, GPD nước ta giữ mức tăng trưởng 7,5%/năm, ngành CNTT phục hồi lại đà tăng trưởng như giai đoạn trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu và duy trì liên tục mức tăng trưởng “tăng tốc” khoảng 35 - 40%/năm, thì đến năm 2015, doanh thu toàn ngành CNTT cũng rất khó đạt mức 20%GDP, tương đương hơn 40 tỷ USD (theo Dự thảo phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 vừa được Bộ Kế hoạch & Đầu tư công bố ngày 24/11/2009 thì Việt Nam phấn đấu đạt GDP hơn 200 tỷ USD vào năm 2015 - PV).

Một minh chứng khác cho sự “bất khả thi” của mục tiêu trong Dự thảo Đề án Tăng tốc đó là hỗ trợ trang thiết bị nghe nhìn, máy tính cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Theo ông Quân, “trang bị điện thoại cố định trang bị đến từng gia đình thì còn có thể làm được, chứ trang bị thiết bị nghe nhìn và máy tính thì vô cùng khó khăn, không thực tiễn, bởi những người thu nhập thấp rất dễ bán thiết bị và máy tính để lấy tiền dùng vào mục đích khác, nhất là ở những vùng sâu vùng xa. Trong khi Dự thảo chỉ nên đặt mục tiêu đưa điện thoại đến hộ gia đình, ti vi để nâng cao đời sống văn hoá cho bà con.

Lý giải về sự “xa vời” của các mục tiêu trong Dự thảo Đề án Tăng tốc, Thứ trưởng  Nguyễn Quân cho rằng do thiếu nhiều số liệu nên một số mục tiêu đề ra chưa thuyết phục, thậm chí duy ý chí. Đơn cử, phần đánh giá thực trạng CNTT Việt Nam chưa đầy đủ, không có số liệu về công nghiệp phần mềm, công nghiệp nội dung số, dịch vụ CNTT, không nêu rõ tỷ trọng hiện tại của CNTT trong GDP, tốc độ tăng trưởng của CNTT trong ít nhất 5 năm gần đây, trong khi đây chính là những số liệu cần thiết cho hoạch định chiến lược phát triển.

Phân bổ kinh phí chưa hợp lý

Cũng theo ông Nguyễn Quân nhận xét, có “cảm giác” việc phân bổ kinh phí cho các chương trình dự án của Đề án Tăng tốc còn dàn trải, mất cân đối: Tổng kinh phí dự kiến của Đề án là 143.998 tỷ đồng (khoảng 8 tỷ USD theo tỷ giá hiện hành), trong đó mảng nội dung “Phát triển hạ tầng mạng viễn thông băng rộng” được dự kiến kinh phí 131.000 tỷ đồng (chiếm gần 91% tổng dự trù kinh phí) với nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước và ODA. Như vậy, có thể thấy “phát triển hạ tầng viễn thông” tiếp tục được xác định là mũi nhọn chủ yếu của Việt Nam trong 5 - 10 năm tới. Nhưng thực tế thì định hướng như vậy chưa hợp lý, bởi đào tạo nhân lực và công nghiệp phần mềm (“cột trụ” đã được xác định là quan trọng tương đương với phát triển hạ tầng) thì lại được đầu tư quá ít.

Nhận xét này của ông Quân nhận được sự tán đồng của rất nhiều chuyên gia CNTT khác. Bởi xét theo Dự thảo Đề án Tăng tốc, chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT chỉ có tổng kinh phí dự kiến 210 tỷ đồng, chiếm khoảng 0,148% tổng kinh phí, nếu cộng cả kinh phí đào tạo chuyên gia cho an toàn thông tin thì cũng không vượt quá 0,25%.

Cẩn thẩn kẻo lãng phí đầu tư

Trong những năm qua, Chính phủ đã phê duyệt khá nhiều Chương trình quốc gia lớn liên quan đến CNTT, ví dụ như: Quy hoạch Phát triển Viễn thông – Internet Việt Nam đến năm 2010; Chương trình Phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam đến năm 2010; Chương trình Phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam đến năm 2010; Chương trình Phát triển nhân lực CNTT Việt Nam; Kế hoạch Tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010; Đề án Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT hội nhập phát triển giai đoạn 2005 - 2010; Kế hoạch Tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020; Kế hoạch Ứng dụng CNTT trong cơ quan Nhà nước 2009 - 2010 do nhiều cơ quan, Bộ, ngành chủ trì.

Các quy hoạch, chương trình, đề án và kế hoạch quốc gia kể trên đều đang trong giai đoạn triển khai, chưa kết thúc, chưa có đánh giá tổng kết. Trong khi đó, Chính phủ lại đang chuẩn bị phê duyệt một số Chương trình quốc gia lớn khác như Chương trình quốc gia về phát triển công nghệ cao (trong đó, CNTT-TT được xác định là một trong 4 nhóm công nghệ được ưu tiên đầu tư phát triển); Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia (trong đó, các doanh nghiệp CNTT cũng là đối tượng ưu tiên).

Điều này cho thấy, một Đề án lớn về CNTT như Đề án Tăng tốc cần được nghiên cứu hết sức thận trọng, có nội dung hài hoà với các chương trình khác, cũng như để tránh nguy cơ lãng phí đầu tư, chồng chéo trong tổ chức thực hiện với các đề án khác. Ngoài ra, nguy cơ đầu tư dàn trải còn tiềm ẩn ở khâu xác định các sản phẩm CNTT chủ lực của Việt Nam.

Để hiện thực hoá nhiệm vụ xây dựng các tập đoàn CNTT làm chủ quốc gia vươn ra quốc tế, ông Quân nêu ý kiến, nên tiếp cận theo hướng xác định rõ sản phẩm thế mạnh cần được Nhà nước hỗ trợ, có chính sách ưu tiên và khuyến khích sản xuất, kinh doanh nhằm thay thế hàng nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu. Trên cơ sở đó sẽ tạo ra các doanh nghiệp, tập đoàn mạnh đi lên từ các sản phẩm chủ lực (tránh việc Nhà nước chỉ hỗ trợ doanh nghiệp chứ không hỗ trợ sản phẩm, dễ dẫn đến hạn chế và thủ tiêu cạnh tranh bình đẳng trên thị trường).

Liên hệ kinh nghiệm của Đài Loan, sau khi xác định rõ 2 sản phẩm chủ lực là màn hình tinh thể lỏng và chip máy tính, Khu công nghệ cao Tân Trúc của Đài Loan năm 2004 đã đạt doanh thu 48 tỷ USD, tương đương toàn bộ GDP của Việt Nam ở thời điểm đó, mà chỉ cần tổng số 100.000 nhân công làm ở doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu. Năng suất lao động ở Tân Trúc đạt nửa triệu USD/đầu người/năm, cao gấp rất nhiều lần so với mục tiêu đề ra của Đề án Tăng tốc (doanh nghiệp làm ăn phát đạt cũng chỉ đạt 20.000USD/đầu người, cao gấp 20 GDP bình quân của cả nước). Màn hình tinh thể lỏng năm 2004 của Đài Loan chiếm 70% thị phần thế giới.

Trong khi đó, Dự thảo Đề án Tăng tốc của chúng ta vẫn chưa xác định được sản phẩm nào là chủ lực của CNTT Việt Nam, thì chắc chắn sẽ dẫn tới hệ quả là đầu tư dàn trải.

Phải “chắt chiu” nguồn ngân sách

Rất nhiều ý kiến cho rằng cần phải cân nhắc kỹ hơn về việc tổng kinh phí của Đề án Tăng tốc (lên tới hơn 140.000 tỷ đồng) chủ yếu lấy từ nguồn ngân sách, trong khi còn rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội bất cập khác vẫn đang “treo” chưa có kinh phí.

TS. Nguyễn Bích Đạt, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho rằng: tổng nguồn vốn của Đề án là quá lớn so với khả năng của ngân sách Nhà nước, vì vậy, cần thực hiện tối đa hoá giải pháp xã hội hoá và đưa ra các cơ chế khuyến khích để các doanh nghiệp chủ trì thực hiện. Trong đó, việc xây dựng hạ tầng mạng viễn thông băng rộng không chỉ trông chờ hoàn toàn vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước mà phải có sự tham gia của doanh nghiệp viễn thông. Với tinh thần phản biện tích cực, TS. Nguyễn Bích Đạt còn đưa ra 3 khuyến nghị cụ thể:

Một là về chính sách thuế, cần nghiên cứu chỉnh sửa mức ưu đãi cao nhất nhưng phải phù hợp với cam kết của Tổ chức Thương mại quốc tế, phù hợp với quyền và thẩm quyền của Chính phủ theo quy định của pháp luật.

Hai là về chính sách đầu tư, việc cho phép chỉ định một số doanh nghiệp lớn, liên doanh với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Chính phủ điện tử của nước ngoài là một cơ chế mới, do đó, cần được xem xét, đề xuất cụ thể hơn.

Ba là chính sách nguồn vốn, cần làm rõ ngân sách Nhà nước hỗ trợ  những nội dung gì trong các lĩnh vực của CNTT, nội dung nào cần xã hội hoá và nội dung nào doanh nghiệp đảm nhận. Cần xem xét lại sơ bộ bài toán nguồn vốn của Đề án để có thể phân bổ theo các nguồn vốn, theo tiến độ làm cơ sở cân đối nguồn lực và phân bổ vốn cho các chương trình. Việc khái toán vốn cần phải xem xét phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách Nhà nước, huy động các nguồn lực từ doanh nghiệp và sự tham gia của người dân.

Mới đây, đầu tháng 12/2009, Thứ trưởng Bộ Tài chính Phạm Sỹ Danh cũng đã ký công văn gửi Văn phòng Chính phủ chính thức đề nghị cân nhắc việc đưa ra dự kiến kinh phí thực hiện đối với các chương trình, dự án trong Dự thảo vì lý do “chưa có căn cứ xác định” khoản kinh phí này.

Theo Thứ trưởng Phạm Sỹ Danh, Bộ Thông tin & Truyền thông cần phải rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về định mức kinh tế - kỹ thuật đối với các hoạt động thuộc lĩnh vực CNTT, làm cơ sở để triển khai thực hiện các chương trình, dự án có sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước; Không nêu vấn đề bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, dự án vì việc bố trí kinh phí thực hiện các chương trình, đề án phải thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Thứ trưởng Phạm Sỹ Danh cũng khẳng định “Bộ Tài chính sẵn sàng nhận trách nhiệm chủ trì, xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi thuộc lĩnh vực được phân công, tạo điều kiện để phát triển các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ CNTT”.

(Xuân Bách)