Xây dựng CSDL phục vụ công tác dự báo và hoạch định chính sách tài chính

90% các nghiệp vụ trong hệ thống quản lý tài chính Việt Nam đã được ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và mỗi ứng dụng đều tạo nên các cơ sở dữ liệu (CSDL) đi kèm, đòi hỏi cần thiết kế tổng thể CSDL/ kho dữ liệu hiện hành để tạo điều kiện tốt cho việc khai thác.

Nhu cầu xây dựng CSDL phục vụ cho công tác phân tích dự báo của ngành Tài chính là rất lớn và đa dạng. Ảnh: TH.Nhu cầu xây dựng CSDL phục vụ cho công tác phân tích dự báo của ngành Tài chính là rất lớn và đa dạng. Ảnh: TH.

Đó là ý kiến của ông Phạm Công Minh, Phó Cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính (Bộ Tài chính) tại Hội thảo “Xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ công tác phân tích dự báo và hoạch định chính sách, chiến lược tài chính” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) phối hợp với Dự án Quỹ Tín thác đa biên giai đoạn 2 - MDTF2 tổ chức từ ngày 26 - 27/9, tại Vĩnh Phúc.

Theo đánh giá của Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính Vũ Nhữ Thăng, thời gian qua, CSDL ngành Tài chính có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần cung cấp một CSDL ngày một đầy đủ hơn... tuy nhiên, hiện CSDL ngành Tài chính còn thiếu tính ổn định, thiếu sự kế thừa theo chuỗi thời gian, trong khi đó, với nhu cầu phân tích dự báo ngày càng cao hơn đã ảnh hưởng lớn tới công tác phân tích, dự báo và hoạch định chính sách tài chính. Do đó, việc đánh giá, xem xét hệ thông dữ liệu đầu vào đang thiếu gì, xem xét những bất cập trong rào cản kỹ thuật, chính sách truy cập thông tin... là thực sự cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Cụ thể, trước đây, ngành Tài chính cũng từng có nhiều mô hình phân tích, dự báo (Úc, Canada...) nhưng sau này, hiệu quả của các mô hình này rất hạn hẹp. Nguyên nhân là do bản thân dữ liệu không được thống nhất. Ngay cả thu NSNN qua từng năm cũng có sự điều chỉnh dữ liệu, mặt khác, qua mỗi chỉ tiêu dữ liệu không có sự thống nhất... tạo ra sự sai số. Cần phải nói, mỗi con số thống kê cần “biết nói”, chỉ ra được quy luật vận động của nền kinh tế. Do đó, sự sai lệch thông tin thống kê đã tạo ra không ít hạn chế cho công tác phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô, mà ở đây là thông tin tài chính.

Hiện nay, nhu cầu xây dựng CSDL phục vụ cho công tác phân tích dự báo của ngành Tài chính là rất lớn và đa dạng, gồm cả những vấn đề vĩ mô đến vi mô và tới từng nghiệp vụ tài chính, trên cả 3 mặt: Phục vụ công tác nghiên cứu hoạch định và điều chỉnh chính sách; phục vụ công tác nghiên cứu phân tích dự báo và cảnh báo an ninh tài chính quốc gia.

Như vậy, với đối tượng khai thác mà Trung tâm dữ liệu (Datacenter) cần phục vụ sẽ rất lớn, trong khi đó, phần mềm đầu ra lại đa dạng, linh hoạt/ mở và môi trường cho khai thác rất rộng. Vì thế, kế hoạch triển khai tổng thể cần chia nhiều giai đoạn với thứ tự ưu tiên rõ ràng cho từng nhóm việc.

“Khi thiết kế tổng thể CSDL/ kho dữ liệu hiện hành của Bộ, tuy có đặt ra yêu cầu phải tạo điều kiện tốt cho việc khai thác nhưng trong tính toán chi tiết lại tạo rất ít khả năng cho người khai thác. Thực tế cho thấy, khi có nhiều hơn 5 người cùng lúc khai thác dữ liệu và mở rộng thêm đối tượng sử dụng ngân sách lên vài trăm người đã gây những tắc nghẽn, mạng không thể hoạt động được. Do đó, cần tạo được một hệ thống CSDL mạnh, linh hoạt đáp ứng nhu cầu tìm kiếm nhiều chiều để thực hiện các so sánh phân tích hết sức đa dạng của người sử dụng. Việc xây dựng một Datacenter chứa mọi thông tin cần thiết cho các hoạt động giám sát cần được nghiên cứu kỹ, bởi để phân tích dự báo nền tài chính quốc gia đòi hỏi khối lượng thông tin rất lớn được thu thập từ nhiều ngành, nhiều cấp. Vì thế, vấn đề khả năng liên thông giữa các CSDL quốc gia hiện có và đang/ chuẩn bị xây dựng về con người, đất đai, tài sản quốc gia, doanh nghiệp, thị trường tài chính, chứng khoán, tiền tệ, các dòng kinh tế xã hội... cùng với giải pháp chia sẻ thông tin, thông tin nguyên bản và thông tin đã xử lý là cần thiết và dưới mọi hình thức, kể cả dùng “đám mây”. - Ông Phạm Công Minh đề xuất.

Đồng tình với đề xuất trên, ông Vũ Nhữ Thăng cũng cho rằng cần có mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác xây dựng và hoạch định chính sách tài chính với nhu cầu của người sử dụng dữ liệu cuối để đạt hiệu quả cao nhất...

(T.Hương)