Công tác thống kê Thuế: Để đổi mới toàn diện, cần có giải pháp đồng bộ

Trong những năm qua, công tác thống kê thuế (TKT) đã có nhiều cố gắng trong việc thu thập thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý của ngành Thuế, bao quát được các nguồn thu như: quản lý số thuế kê khai, phải nộp, đã nộp, nợ đọng, hoàn thuế của đối tượng nộp thuế.

Công tác thống kê Thuế: Để đổi mới toàn diện, cần có giải pháp đồng bộ

Tuy nhiên, để thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước và nhiệm vụ thu của ngành Thuế, công tác TKT hiện đang gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp thông tin chỉ đạo, điều hành tại cấp trung ương và đang đứng trước nhu cầu cấp thiết phải đổi mới một cách toàn diện và nhanh chóng. Cùng với chiến lược cải cách hiện đại hoá ngành Thuế, cải cách công tác quản lý thuế, đổi mới công tác TKT đang là mối quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo Tổng cục Thuế nhằm nâng cao năng lực quản lý, đặc biệt là năng lực quản lý của cơ quan thuế cấp trung ương. 

Mô hình tổ chức và chế độ báo cáo 

Hiện tại ngành Thuế được tổ chức theo 3 cấp gắn liền với địa bàn hành chính, do đó công tác TKT cũng được tổ chức tại mỗi đơn vị thuộc các cấp của ngành Thuế. Đầu năm 2004, ngành Thuế sắp xếp lại bộ máy tổ chức, theo đó công tác TKT được tổ chức thống nhất theo ngành dọc từ cấp trung ương xuống tỉnh, thành phố, quận, huyện và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và được thực hiện song hành bởi hai bộ phận với hai chức năng: chức năng thu thập dữ liệu tổng hợp, báo cáo thống kê và chức năng phân tích dữ liệu thống kê.
Tại Tổng cục Thuế, thành lập mới Phòng TKT tại Trung tâm Tin học Thống kê. Tại mỗi Cục thuế (64 cục) có một bộ phận kế toán, thống kê thuộc Phòng Tin học và Xử lý dữ liệu về thuế. Tại mỗi Chi cục thuế (hơn 600 chi cục) có một bộ phận kế toán, thống kê thuộc Tổ Tính thuế. Các phòng thống kê có nhiệm vụ thu thập dữ liệu, tổng hợp báo cáo thống kê và các phòng phân tích dữ liệu có nhiệm vụ dự báo khả năng thu phục vụ xây dụng dự toán thu thuế hàng tháng, quí, năm và dự toán thu dài hạn, theo dõi, quản lý thực hiện dự toán thu.
Tổng số cán bộ của ngành Thuế làm công tác thống kê, kế toán thuế, khoảng hơn 1000 người (gồm cả cán bộ chuyên trách và cán bộ kiêm nhiệm, trong đó cấp trung ương có 4 chuyên trách, cấp tỉnh, thành phố có hơn 100 chuyên trách, cấp quận huyện có hơn 600 kiêm nhiệm). Chức năng nhiệm vụ thống kê tại mỗi cấp của ngành Thuế cũng được quy định rõ ràng. Phạm vi thống kê tại từng cấp được gắn liền với phạm vi quản lý thu thuế của cơ quan thuế tại cấp đó. Ngoài ra, cấp Cục thuế phải tổng hợp số liệu thống kê của các chi cục trên địa bàn cùng với số liệu thống kê trong phạm vi cấp Cục quản lý trước khi gửi lên Tổng cục thuế.

Sơ đồ tổ chức công tác thống kê ngành Thuế:

Công tác thống kê Thuế: Để đổi mới toàn diện, cần có giải pháp đồng bộ ảnh 1



Hầu hết các báo cáo thống kê được quy định gửi từ cơ quan thuế cấp dưới lên cơ quan thuế cấp trên bằng cách thức truyền thống (báo cáo bằng văn bản). Hiện nay, ngành Thuế đã xây dựng các phần mền ứng dụng tin học cho phép cơ quan thuế cấp dưới kết xuất báo cáo và gửi lên cấp trên bằng file qua các ứng dụng quản lý thuế và hệ thống truyền tin nội bộ của ngành. Mặc dù vậy, việc gửi báo cáo qua đường truyền chưa được coi là báo cáo chính thức mà chỉ được coi như là công cụ hỗ trợ, không thể thay thế báo cáo giấy. Nhiều trường hợp báo cáo giấy và báo cáo gửi qua đường truyền tin không khớp nhau, nhưng do báo cáo giấy mang tính chính thức nên cán bộ thống kê phải nhập lại dữ liệu báo cáo trên giấy để thay thế cho dữ liệu đã cập nhật tự động bằng file.

Sơ đồ tổ chức dữ liệu và trao đổi thông tin thống kê các cấp trong ngành Thuế:

Công tác thống kê Thuế: Để đổi mới toàn diện, cần có giải pháp đồng bộ ảnh 2

--PageBreak--  

Khó khăn trong việc cung cấp dữ liệu trong và ngoài ngành 

Mặc dữ liệu TKT đóng vai trò quan trọng là nguồn thông tin chủ yếu cung cấp cho công tác xây dựng dự toán thu hàng năm và công tác dự báo thu theo từng thời kỳ nhất định của ngành Thuế, nhưng trong bối cảnh chung của việc triển khai công tác thống kê tài chính, việc tổ chức, triển khai công tác thống kê của ngành Thuế đang bộc lộ những khó khăn mà bản thân ngành Thuế cần sớm khắc phục.
Đối với nội bộ ngành Thuế, các thông tin thống kê còn mang nặng tính tổng hợp, một số các chỉ tiêu trên các mẫu biểu báo cáo thống kê chưa được chuẩn hoá với hệ thống danh mục chỉ tiêu chung. Các mẫu biểu thống kê còn thiếu một số thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý như thông tin về đối tượng quản lý, thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, thông tin về các đối tượng nộp thuế vi phạm về thuế..., nguồn thông tin lập báo cáo chủ yếu dựa vào các tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế, chưa khai thác được các nguồn thông tin khác từ đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý khác.
Việc chấp hành chế độ gửi báo cáo từ cơ quan thuế cấp dưới lên cơ quan thuế cấp trên còn chưa đầy đủ, kịp thời. Khâu tổng hợp báo cáo phải qua nhiều cấp gây ra sự chậm trễ, cơ quan thuế cấp trên chờ cơ quan thuế cấp dưới, một Cục thuế phải tổng hợp báo cáo từ nhiều đầu mối (trung bình từ hơn 10 Chi cục và một số phòng quản lý) nên thời gian thường xuyên chậm so với yêu cầu ít nhất là từ 5 đến 10 ngày. Sở dĩ có tình trạng này là do chưa có chế tài và các biện pháp xử lý việc không lập và gửi báo cáo đúng chế độ quy định, Tổng cục Thuế cũng đã áp dụng biện pháp đưa tiêu chí chấp hành báo cáo khi xem xét danh hiệu thi đua, nhưng hiệu quả của các biện pháp này rất hạn chế vì nhiều năm nay tình trạng này vẫn liên tục tái diễn làm cho báo cáo thống kê luôn chậm quá mức quy định rất nhiều.
Bên cạnh đó, vẫn còn một số cán bộ chưa nhận thức đúng vai trò của công tác thống kê. Chất lượng cán bộ thống kê đôi lúc, đôi nơi chưa đảm bảo yêu cầu công việc, chưa yên tâm công tác. Cán bộ làm công tác TKT hầu hết không được đào tạo nghiệp vụ thống kê kể cả cán bộ cấp trung ương đến cấp tỉnh, quận huyện và khả năng ứng dụng tin học chưa cao nên rất hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác. Quan niệm về nghiệp vụ thống kê còn đơn giản, thậm chí đơn điệu. Cán bộ thống kê không thấy hết vai trò quan trọng của công tác thống kê, thường mặc cảm, tự ty và không có nhiều sự chủ động, sáng tạo trong công tác.
Chất lượng báo cáo đôi khi còn chưa đảm bảo, số liệu cung cấp không phản ánh đúng tình hình thực tế, không đáp ứng yêu cầu trung thực khách quan của công tác thống kê. Việc cập nhật thông tin, dữ liệu còn thực hiện thủ công, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào thu thập và xử lý dữ liệu còn chưa cao, nên hầu hết thông tin cập nhật bằng tay gây nhiều sai sót trong khâu nhập liệu do khối lượng công việc quá lớn (ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh đã áp dụng các biện pháp như: mã vạch hai chiều với tờ khai thuế, kết nối thông tin với kho bạc nhận chứng từ nộp thuế bằng file qua đường truyền tin...).
Dữ liệu thống kê chưa được lưu trữ tập trung tại cơ quan thuế cấp trên, hoặc tập trung theo vùng, miền, toàn quốc, mà phân tán tại các cơ quan thuế quản lý trực tiếp (hơn 60 cơ sở dữ liệu lưu trữ tại các Cục thuế và hơn 600 cơ sở dữ liệu lưu trữ tại các Chi cục thuế). Riêng cơ sở dữ liệu về thông tin đăng ký cấp mã số thuế của đối tượng nộp thuế được xử lý và lưu trữ tập trung tại cấp trung ương cho gần 1,6 triệu đối tượng nộp thuế, trong đó gần 200.000 đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp, còn các dữ liệu khác về tình hình kê khai, nộp thuế, thông tin quản lý... được lưu phân tác tại cấp Cục và Chi cục (cấp Cục lưu hầu hết thông tin doanh nghiệp, cấp Chi cục chủ yếu lưu thông tin của hộ cá thể và một phần nhỏ thông tin doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Chi cục quản lý), cơ quan thuế cấp trên không nắm được dữ liệu chi tiết của cơ quan thuế cấp dưới mà chỉ lưu trữ báo cáo tổng hợp của cơ quan thuế cấp dưới, nên dẫn tới bị động và quan liêu trong việc cung cấp , chia sẻ thông tin giữa các đơn vị trong ngành.
Đối với các đơn vị liên quan, trong những năm qua, việc trao đổi thông tin giữa các đơn vị của Bộ, cũng như với cơ quan nhà nước chưa được thực sự quan tâm và chưa có cơ chế trao đổi thông tin, nên hầu hết cơ quan thuế các cấp thực hiện việc trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý nhà nước khác mang tính tự phát, thủ công và không có sự thống nhất trong toàn ngành. Mặc dù, vừa qua Tổng cục Thuế, Kho bạc Nhà nước và Tổng cục Hải quan đã ký quy chế về trao đổi thông tin giữa 3 ngành, nhưng để việc trao đổi thông tin thực sự hiệu qủa thì cần phải có một thời gian nhất định để xây dựng và thực hiện.
Tổng cục Thuế đã xây dựng dự án kết nối trao đổi thông tin với Tổng cục Thống kê nhưng trong quá trình trao đổi, nổi lên một khó khăn rất lớn đó là những khái niệm chung giữa các ngành, cùng một khái niệm nhưng mỗi ngành có một cách định nghĩa và tiêu chí khác nhau dẫn đến xác định thông tin không đồng nhất, ví dụ như việc phân loại doanh nghiệp, phân loại thành phần kinh tế...  

Cần những giải pháp đồng bộ 

Từ những khó khăn nêu trên, đổi mới toàn diện và nhanh chóng công tác TKT đang là yêu cấu bức xúc đặt ra đòi hỏi ngành Thuế cần thực hiện tốt những giải pháp sau:
Thứ nhất, xây dựng chế độ thông tin TKT dựa trên hệ thống thông tin dữ liệu tập trung tại cấp trung ương với sự ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và hệ thống máy tính hiện đại nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê tập trung, đầy đủ, chính xác và chi tiết đến từng đối tượng nộp thuế phục vụ cho việc phân tích thông tin theo nhiều cấp độ khác nhau, phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo và cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách, chiến lược của ngành. Chế độ thông tin thống kê phải bao quát hết các lĩnh vực trong công tác quản lý, phản ánh đầy đủ, trung thực, khách quan tình trạng chấp hành nghĩa vụ thuế của một đối tượng nộp thuế từ kê khai thuế, nộp thuế cho đến tình hình sản xuất kinh doanh tình trạng tài chính và các mối liên quan của đối tượng nộp thuế với các đối tượng nộp thuế khác.
Thứ hai, xây dựng cơ chế thu thập, cập nhật dữ liệu dưới các hình thức điện tử bằng cách áp dụng các cơ chế, cung cấp các dịch vụ kê khai, nộp thuế điện tử cho đối tượng nộp thuế như: kê khai thuế qua mạng Internet, nộp thuế điện tử, xây dựng hệ thống trao đổi thông tin điện tử với đối tượng nộp thuế nhằm thu thập tình hình sản xuất kinh doanh, hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp qua mạng máy tính nhằm thay thế cách thức nhập liệu bằng tay, giảm bớt khối lượng công việc cho cán bộ nhập dữ liệu để tập trung vào việc kiểm tra, kiểm soát thông tin.
Thứ ba, song song với việc triển khai công tác thống kê thuế như là một bộ phận của Thống kê tài chính – ngân sách nói chung, cần xây dựng cơ chế trao đổi thông tin giữa các cấp trong ngành Thuế một cách tự động, bỏ dần cơ chế gửi báo cáo giấy đối với những thông tin được xử lý bởi hệ thống máy tính. Xây dựng chế độ gửi thông tin, dữ liệu báo cáo bằng điện tử, cho phép các báo cáo gửi qua đường truyền tin là báo cáo chính thức thay thế báo cáo gửi bằng giấy. Xây dựng quy chế quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp đối với thông tin thuộc phạm vi quản lý của từng cấp, quy định rõ các hình thức xử lý đối với cơ quan thuế, cán bộ thuế vi phạm chế độ TKT, cố tình làm sai lệch số liệu, làm chậm trễ việc trao đổi dữ liệu của cơ quan thuế.
Thứ tư, tập trung đào tạo nâng cao trình độ cho các cán bộ làm công tác TKT, đặc biệt là nghiệp vụ thống kê như thu thập, điều tra, phân tích số liệu thống kê và khả năng ứng dụng tin học trong công tác thống kê. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của công tác TKT, đặc biệt là đối với các cấp lãnh đạo ngành Thuế, từng bước tạo vị thế và nâng cao trách nhiệm của công tác TKT, từ đó nâng cao chất lượng công tác thống kê ngay từ trong nhận thức của cán bộ ngành Thuế.
Thứ năm, đồng thời với việc tham gia với các ngành liên quan xây dựng hệ thống Danh mục chuẩn quốc gia, thống nhất các khái niệm dùng chung trong công tác thống kê để tạo điều kiện thuận lợi và thống nhất trong việc trao đổi thông tin giữa các ngành, cần có những chủ động trong xây dựng và triển khai mạnh mẽ các dự án kết nối và trao đổi thông tin với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính như: Cục Tin học và Thống kê tài chính, Vụ Ngân sách Nhà nước, Cục Tài chính Doanh nghiệp, Tổng cục Thống kê, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Hải quan, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước...
Thứ sáu, đổi mới phương pháp phân tích thống kê, chuyển dần việc tổng hợp số liệu TKT theo cách truyền thống sang phân tích số liệu thống kê dựa vào các phương pháp phân tích thống kê hiện đại để từng bước nâng cao chất lượng thông tin phục vụ quản lý. Đưa công tác thống kê từ chỗ chỉ là số liệu tổng hợp không "biết nói", thành số liệu phân tích nhiều chiều, có khả năng dự báo sự biến động đối với các yếu tố quản lý dựa trên nguồn thông tin phong phú, tin cậy, kịp thời. Góp phần đưa công tác thống kê trở thành công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các thành phần kinh tế về công tác thuế và trong lĩnh vực thu nhập quốc dân.
Một điểm rất quan trọng nữa là các giải pháp nêu trên phải luôn được xem như là một bộ phận hữu cơ trong tổng thể Hệ thống thông tin Thống kê tài chính theo tinh thần của Quyết định số 1158/QĐ - BTC (ngày 13/4/2004) của Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt kế hoạch xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thống kê tài chính đến năm 2010./. 

(M.Long)