CPI tháng 10 tăng 0,11%

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2014 tăng 0.11% so với tháng trước; tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,36% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân mười tháng đầu năm 2014 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,47%.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

CPI tháng 10 tăng chủ yếu do một số địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí năm học 2014-2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ nên làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,31%, đóng góp 0,08% vào mức tăng chung 0.11% của CPI.

CPI tháng 10 năm 2014 ở mức khá ổn định nhờ các yếu tố như: Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới ổn định; nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào; giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh 3 đợt giảm giá vào các ngày 19 và 30 tháng 9 năm 2014 và ngày 13 tháng 10 năm 2014, (giá xăng giảm 820đ/lít, giá dầu diezel giảm 1.530đ/lít, giá dầu hỏa giảm 1.420đ/lít) nên chỉ số giá xăng dầu giảm 2,19% và chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng cũng giảm 0,45% so với tháng trước.

Cụ thể, chỉ số giá nhóm giáo dục tăng cao nhất trong 11 nhóm hàng chính (1.31%), do nhiều địa phương tăng học phí năm học 2014-2015 theo lộ trình tăng học phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ. Trong tháng 10 năm 2014 có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng giá dịch vụ giáo dục các loại đưa chỉ số chung của nhóm giáo dục tăng 1,31%, đóng góp 0,08% vào mức tăng chỉ số giá chung cả nước.

Tiếp sau đó là thuốc và dịch vụ y tế (+0,53%). Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở giá dịch vụ y tế của một số tỉnh điều chỉnh tăng như: Tỉnh Bến tre thực hiện giá dịch vụ y tế mới từ ngày 01/10/2014 Theo Nghị quyết 02/2014/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân Tỉnh ngày 10 tháng 7 năm 2014 nên giá dịch vụ y tế của tỉnh Bến tre tăng 50.09%; bên cạnh đó một số tỉnh tăng giá một số dịch vụ y tế của phòng khám tư nhân như Thái Nguyên tăng 1,05%, Cần Thơ tăng 0,27%. Giá thuốc y tế tăng nhẹ ở mặt hàng thuốc kháng sinh 0,14%; thuốc cảm tăng 0,38%; thuốc vitamin tăng 0,28% do vào thời điểm giao mùa hay xảy ra những bệnh về đường hô hấp nên nhu cầu một số loại thuốc kháng sinh, thuốc cảm, thuốc vitamin tăng.

Trong tháng, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22do giá nguyên liệu đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng đồ dùng gia đình, chất tẩy rửa hóa chất tăng theo. Tháng 10 là thời điểm bắt đầu chuyển mùa lạnh nên mặt hàng đệm mút, chăn ga tăng giá từ 0,3% -0.5% do nhu cầu tăng; bên cạnh đó nhu cầu thuê người giúp việc trong gia đình tăng ở một số tỉnh, thành phố nên giá dịch vụ gia đình tăng 0,96%. Nhóm hàng may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,19% do vào thời điểm giao mùa nên giá một số mặt hàng quần áo mùa thu tăng 3-5% ; vải các loại tăng 0,66%; giày dép tăng 0,61% so tháng trước.

Nhóm hàng ăn tăng nhẹ

Chiếm quyền số lớn trong rổ hàng hóa tính giá nhưng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng nhẹ 0,05%. Trong đó, chỉ số giá lương thực tháng 10 năm 2014 chỉ tăng nhẹ (0,15%) so với tháng 9 năm 2014 là do nhu cầu mua vào của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo để thực hiện các hợp đồng giao hàng đã giảm (tính hết tháng 9 năm 2014 lượng gạo theo hợp đồng chưa giao hàng khoảng 1,7 triệu tấn, trong kho của các doanh nghiệp có khoảng 1,2 triệu tấn, như vậy chỉ còn thiếu khoảng 0,5 triệu tấn). Bên cạnh đó, các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long bắt đầu thu hoạch vụ Thu Đông, cùng với xuất khẩu gạo gặp khó khăn nên giá gạo trong nước có xu hướng giảm từ đầu tháng 10 năm 2014. Giá gạo tẻ thường miền Bắc ở mức 11.500đ/kg - 12.500 đ/kg, miền Nam giá gạo tẻ thường 11.000đ-12.000đ/kg, gạo tẻ ngon từ 16.000đ/kg-18.000đ/kg, gạo nếp thường: 18.000đ/kg - 23.000 đ/kg.

Trong khi đó, thực phẩm chỉ tăng 0,01% do một số mặt hàng thực phẩm tươi sống tăng nhẹ do nhu cầu tăng vào mùa cưới hỏi. Cụ thể, giá thịt lợn tăng 0,2% so với tháng trước; Giá thủy hải sản tăng 0,37% so với tháng trước; Giá các mặt hàng bơ, sữa tăng, bánh kẹo tăng 0,1%-0,3% so với tháng trước. Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, nhóm thực phẩm cũng có các mặt hàng giảm giá.  Giá thịt gà giảm 0,32%; Giá trứng gia cầm giảm 0,53% do đến kỳ xuất chuồng của nhiều hộ chăn nuôi tái đàn sau khi dịch cúm gia cầm cơ bản được khống chế; Giá đường giảm 0,53% do sản lượng dồi dào.

Giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình cũng tương đối ổn định, chỉ tăng 0,07%, do trong tháng không có ngày lễ hội lớn, ngoại trừ TP. Hà Nội có tổ chức 60 năm ngày giải phóng Thủ đô 10/10 nên giá lương thực, thực phẩm có nhích hơn các tỉnh một chút nhưng không gây đột biến, cụ thể: giá mặt hàng cơm bình dân tăng 0,06% và uống ngoài gia đình tăng 0,08%.

Giao thông và nhà ở cùng giảm

Trong tháng, chỉ có 2 nhóm hàng là có chỉ số giá giảm là nhóm giao thông và nhà ở & vật liệu xây dựng. Cụ thể, giao thông giảm 1,02%, là nhóm có mức giảm nhiều nhất trong 11 nhóm hàng chính, chỉ số giá nhóm giao thông tháng 10 chủ yếu giảm ở mặt hàng xăng dầu và dịch vụ giao thông công cộng. Chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 0,45% so với tháng trước do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam điều chỉnh giá vé tàu hỏa giảm 6,89% so với tháng trước. Còn nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng (-0.08%), nguyên nhân là giá gas bình quân tháng 10 năm 2014 giảm 0,53% do vẫn còn ảnh hưởng từ đợt giảm tháng 9 năm 2014 mỗi bình gas 12 kg giảm 7000đ, giá gas bán lẻ tối đa đến tay người tiêu dùng là 377.000đ/bình 12kg; Giá dầu hỏa được điều chỉnh giảm giá 3 đợt giảm giá vào các ngày 19 và 30 tháng 9 năm 2014 và ngày 13 tháng 10 năm 2014, giá dầu hỏa giảm 1.420đ/lít, bình quân tháng 10 giảm 2,93% so tháng 9 năm 2014; Điện sinh hoạt giảm 0,16% so tháng trước. Giá vật liệu xây dựng ổn định do tháng này đang là mùa mưa nên nhu cầu xây dựng chững lại.

Không nằm trong rổ hàng hóa tính giá nhưng giá vàng và đô la Mỹ cũng có những động thái trái chiều. Chỉ số giá vàng giảm 2,82% do giảm theo giá vàng thế giới, giá vàng giao ngay ngày 15/10 là 1.226 USD/ounce do đồng USD tăng giá hơn so với các đồng ngoại tệ khác, những lo ngại về dự báo Cục dữ trữ Liên bang Mỹ sẵn sàng nâng lãi suất sớm hơn dự kiến và nhu cầu về vàng vật chất tại Trung Quốc và Ấn Độ trầm lắng. Bình quân giá vàng trong nước ngày 15/10 dao động quanh mức 3.575.000đ/chỉ vàng 99.99.

Trong khi đó, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,18%. Giá đô la Mỹ ở thị trường tự do và ngân hàng ở những phiên đầu tháng 10 cùng xoay quanh mức 21.240VNĐ/USD, tỷ giá liên ngân hàng vẫn giữ ở mức 21.246VND/USD do lượng dự trữ đô la Mỹ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khá dồi dào, cung cấp đủ  cho các doanh nghiệp có nhu cầu để nhập khẩu nguyên vật liệu.

(T.Hương)