CPI tháng 11: Giảm 0,27% so tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2014 giảm 0,27% so với tháng trước; tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,08% so với tháng 12 năm trước. Tính chung CPI bình quân 11 tháng năm 2014 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,3%.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tổng hợp lên CPI có 4 nhóm chỉ số giá CPI giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%; Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,74%; Giao thông giảm 2,75%; Bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

CPI tháng 11 năm 2014 giảm chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước điều chỉnh hai đợt giảm giá vào ngày 23 tháng 10 và 07 tháng 11 năm 2014, (giá xăng giảm 1.500 đ/lít, giá dầu diezel giảm 1000 đ/lít, giá dầu hỏa giảm 800 đ/lít) nên chỉ số giá nhóm giao thông giảm khá mạnh giảm 2,75% đóng góp 0,24% vào mức giảm chung 0,27% của CPI; bên cạnh đó giá gas thế gới giảm mạnh nên giá gas trong nước được điều chỉnh giảm 40.000 đ/bình từ ngày 01 tháng 11 năm 2014 càng góp phần cho CPI tháng 11 năm 2014 giảm hơn so với tháng trước.

CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 11 TRONG 10 NĂM GẦN ĐÂY

                                                                                                    Đơn vị tính:%

 

Năm 2005

 

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

CPI tháng 11 năm báo cáo so với tháng trước (% tăng, giảm)

0,4

0,61

1,23

-0,76

0,55

1,86

0,39

0,47

0,34

-0,27

CPI tháng 11 năm báo cáo so với tháng 12 năm trước (% tăng, giảm)

7,6

6,01

9,45

20,71

5,07

9,58

17,50

6,52

5,50

2,08

Trong tháng, nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng cao nhất trong rổ hàng hóa tính giá (+0,34%). Nguyên nhân là do thời tiết vào mùa lạnh và đang mùa cưới hỏi nên nhu cầu mua sắm quần áo may sẵn mùa đông tăng lên, đã ảnh hưởng đến giá một số mặt hàng như: bộ comlê tăng 1,18%; áo len tăng 1,24%; giầy dép tăng 0,56%...

Ngược lại, nhóm Giao thông lại có chỉ số giảm mạnh nhất (-2,75%) trong 11 nhóm hàng chính, chỉ số giá nhóm giao thông tháng 11 chủ yếu giảm ở mặt hàng xăng dầu và dịch vụ giao thông công cộng. Với mức giảm 2,75% của nhóm giao thông đã đóng góp 0,24% vào mức giảm chung 0,27% của CPI tháng 11 năm 2014.

Tiếp sau đó là nhóm Nhà ở và vật liệu xây dựng (-0.74%). Chỉ số giá nhóm hàng này giảm chủ yếu ở các mặt hàng sau: Giá gas bình quân tháng 11 năm 2014 giảm 4,37% do ảnh hưởng đợt giảm giá từ ngày 01 tháng 11 năm 2014, mỗi bình gas 12 kg giảm 40.000đ, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng là 340.000 – 345.000 đ/bình 12kg (do giá gas thế giới tháng 11 năm 2014 khoảng 605USD/tấn, giảm 145USD/tấn so với giá tháng 10 năm 2014); Giá dầu hỏa được điều chỉnh giảm giá 2 đợt vào ngày 23 tháng 10 và ngày 07 tháng 11 năm 2014, giá dầu hỏa giảm 800đ/lít, bình quân tháng 11 giảm 6,31% so tháng 10 năm 2014; Điện sinh hoạt giảm 1,52% so với tháng trước do nhu cầu dùng điện vào tháng này giảm. Riêng giá vật liệu xây dựng tăng từ 0,1 - 0,2%  do nhu cầu nâng cấp và tu sửa nhà ở tăng vào những tháng cuối năm.

Đáng chú ý, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tiếp tục giảm -0,03%. Trong đó, chỉ số giá lương thực tháng 11 năm 2014 tăng 0,12% so với tháng trước là do thị trường xuất khẩu gạo có nhiều dấu hiệu tích cực, như Philippines đang có nhu cầu nhập thêm 500.000 tấn gạo giao hàng trong tháng 12, Indonexia cũng có nhu cầu nhập thêm 400.000 – 500.000 tấn gạo từ nay đến cuối năm, nên các doanh nghiệp và tiểu thương đẩy mạnh việc thu mua nhằm đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu đã ký trước đó và dự trữ chờ các hợp đồng mới. Đặc biệt gần đây tiếp tục có một lượng lớn gạo được xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc cũng góp phần đẩy giá gạo nhích lên. Tại thị trường miền Bắc giá gạo tẻ thường ở mức 11.500đ/kg - 13.000 đ/kg, tại thị trường miền Nam giá gạo tẻ thường 12.500đ -13.500đ/kg, gạo tẻ ngon từ 17.000đ/kg - 19.000đ/kg, gạo nếp thường là 19.000đ/kg - 23.000 đ/kg.

Trong khi đó, thực phẩm giảm 0,1%. Trong tháng có một số mặt hàng thực phẩm tươi sống giảm nhẹ so với tháng trước do nguồn cung dồi dào và giá cước vận chuyển có xu hướng giảm. Cụ thể, giá thịt lợn giảm 0,04%; Giá thịt gà giảm 1,18%; Giá thịt gia cầm khác giảm 2,33%; Giá tôm tươi giảm 0,15%; Giá các mặt hàng đường, bơ, sữa, pho mát giảm 0,1 - 0,6%; Bên cạnh các mặt hàng giảm giá, nhóm thực phẩm cũng có các mặt hàng tăng giá như: Giá thủy, hải sản khác chế biến tăng 0,22% do vào mùa mưa nên gặp khó khăn trong việc chế biến; Giá quả tươi khác tăng 1,54% do tăng giá một số loại trái cây trái mùa.

Do giá lương thực, thực phẩm ổn định nên giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình cũng tương đối ổn định, chỉ tăng 0,03%; giá mặt hàng cơm bình dân tăng 0,02% và uống ngoài gia đình tăng 0,07%.

Không nằm trong rổ hàng hóa tính giá, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ lại có diễn biến khá trái chiều khi chỉ số giá vàng ghi nhận mức giảm 1,49%. Giá vàng tong nước giảm theo giá vàng thế giới, tại thị trường Luân Đôn giá vàng giao ngay ngày 15 tháng 11 năm 2014  là 1.188 giảm 52USD/ounce so ngày 15  tháng 10 năm 2014 do đồng USD tăng mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác và kinh tế Mỹ có những tín hiệu khả quan. Bình quân giá vàng trong nước ngày 15 tháng 11 năm 2014 dao động quanh mức 3.525.000đ/chỉ vàng SJC.

Còn giá đô la Mỹ ở thị trường tự do và ngân hàng đều biến động khá mạnh so với tháng trước xoay quanh mức 21.350VNĐ/USD nhưng cung - cầu ngoại tệ vẫn chưa thực sự có dấu hiệu căng thẳng, tỷ giá liên ngân hàng vẫn giữ ở mức 21.246VND/USD do lượng dự trữ đô la Mỹ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khá dồi dào, cung cấp đủ cho các doanh nghiệp có nhu cầu để nhập khẩu nguyên vật liệu.

(T.Hương)