CPI tháng 3 giảm mạnh 0,44% so tháng trước

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2014 giảm 0.44/% so với tháng 2 năm 2014, tăng 4.39% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0.8% so với tháng 12 năm trước. Tính chung, CPI quí I năm 2014 tăng 4.83% so với cùng kỳ năm trước.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm: Tác động mạnh đến CPI

Trong tháng có 3/11 nhóm hàng hóa tính giá có chỉ số giảm. Đáng chú ý, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm mạnh nhất với mức 0,96%, trong đó, chỉ số giá lương thực tháng 3/2014 giảm 0.13% so với tháng 2/2013. Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch vụ Thu Đông với năng suất khá cao (nhiều tỉnh đạt năng xuất trên 8 tấn/ha; ước trung bình cả Vùng đạt 7 tấn/ha cao hơn dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 0.5 tân/ha) nên giá lúa gạo giảm. Bên cạnh đó, do sức ép cạnh tranh từ Thái Lan, Ấn Độ, một số thị trường truyền thống giảm nhập khẩu nên giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm tác động đến giá trong nước. Trong tháng, giá gạo bán lẻ trên thị trường giảm từ 300 -500 đ/kg. Giá gạo tẻ thường miền Bắc hiện từ 11.000 - 13.000 đ/kg (giảm 100 đ/kg), miền Nam giá gạo tẻ thường 7000-8500 (giảm 500-700đ/kg), gạo tẻ ngon từ 15.000-17.000 đ/kg (giảm 500đ/kg), gạo nếp thường: 17.000 - 18.500 đ/kg (giảm 1.000 đ/kg).

Tuy nhiên, Thủ Tướng vừa ký Quyết định mua tạm trữ 1 triệu tấn quy gạo trong vụ Đông Xuân ở Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long từ ngày 15/3/2014 đến hết ngày 30/4/2014 nên giá lúa gạo tại các tỉnh trong vùng bắt đầu nhích lên sau ngày 15/3/2014.

Sau Tết Nguyên Đán, giá các mặt hàng thực phẩm đã giảm khá mạnh do nhu cầu về các mặt hàng này đã trở lại bình thường và ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm tại nhiều địa phương. Giá thịt lợn giảm 2.02%, giá bán lẻ thịt mông sấn hiện từ 75.000-85.000 đ/kg (giảm 5.000-10.000 đ/kg); nạc thăn từ 85.000-90.000 đ/kg (giảm 5.000-10.000 đ/kg); Giá thịt gia cầm tươi sống giảm 4.07% so tháng trước. Giá gà ta hiện chỉ còn  từ 95.000-110.000 đ/kg (giảm 5.000-10.000đ/kg); gà công nghiệp làm sẵn giá từ 45.000- 55.000 đ/kg (giảm 5.000 đ/kg); Giá thịt chế biến giảm 0.54%; giá trứng các loại giảm 4.9%. Giá rau tươi tiếp tục giảm mạnh nhất là ở hai kỳ đầu của tháng, giá rau giảm 4.76% so với tháng trước do sản lượng rau tươi thu hoạch nhiều.

Riêng giá sữa tăng  2.64% do giá nguyên liệu thế giới tăng liên tiếp 2 tháng trước. Tính đến hết tháng 2 giá bột sữa, dầu bơ thế giới tăng 30%-57% so với cùng kỳ năm 2013. Trong nước, từ ngày 10 tháng 2 năm 2013 Công ty sữa Việt Nam bắt đầu tăng giá một số nhóm sản phẩm với mức tăng từ 8%-10% sau một thời gian dài giữ ổn định giá bán (lần tăng trước đây vào tháng 2 năm 2013). Bên cạnh đó, các hãng sữa bột nhập ngoại như Dutch Lady, Abbott, Nutifood.. cũng đã tăng giá từ 7%-15%  bắt đầu từ ngày 15/2/2014.

Mặc dù giá lương thực, thực phẩm giảm nhưng giá các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình tháng này vẫn tăng nhẹ, do trong tháng này có nhiều lễ hội đầu năm: chỉ số giá nhóm hàng ăn ở quán bình dân tăng 0.08% (chủ yếu tăng ở giá phở); chỉ số giá nhóm uống ngoài gia đình tăng 0.12%.

Bên cạnh đó, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng giảm 0.74% do giá gas được điều chỉnh giảm 31.000 đ/bình12kg từ ngày 01/3/2014; mặc dù giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0.5% do các tỉnh phía Nam bắt đầu vào mùa khô nên nhu cầu xây dựng tăng. Giá vật liệu xây dựng ổn định. Là một trong 3 nhóm hàng hóa có chỉ số giảm, chỉ số giá nhóm giao thông tháng này khá ổn định và giảm nhẹ. Tuy nhiên trong nhóm có mặt hàng tăng giá, có mặt hàng giảm giá. Cụ thể, giá xăng dầu tháng này tăng 0.65% do đợt điều chỉnh giá xăng dầu vào ngày 21/2/2014 mỗi lít xăng tăng 300đ/lít, dầu diezel tăng 240đ/kg. Trong khi đó, giá dịch vụ vận tải đường sắt giảm 4.56% do Tổng Công ty đường sắt giảm giá sau Tết; Giá vé ô tô khách giảm 5.98% do sau Tết các doanh nghiệp vận tải giảm giá.

Các nhóm khác chỉ tăng nhẹ

Trong tháng, các mặt hàng về đồ uống giữ giá ổn định hoặc giảm nhẹ do nhu cầu sau Tết giảm, riêng giá mặt hàng thuốc lá tăng 0.78%, góp phần đưa CPI nhóm hàng đồ uống, thuốc lá tăng 0,24%. Tiếp sau đó là đồ dùng và dịch vụ khác (+0.23%). Nhóm hàng này tăng chủ yếu ở mặt hàng vật dụng về hỷ tăng 0.43% do tháng này có nhiều đám cưới và giá hoa tăng; giá vàng trang sức tăng 2.59% do tăng theo giá vàng. Giá các dịch vụ cá nhân như cắt tóc, gội đầu đã trở lại bình thường sau Tết, nên giá giảm 0.24%.

Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng +0.16%, chủ yếu ở công dịch vụ sửa chữa các đồ dùng gia đình tăng 0.21%; dịch vụ gia đình tăng 0.33% do đầu năm mới giá các mặt hàng này thường tăng; còn giá các mặt hàng khác ổn định.

Còn chỉ số giá nhóm văn hoá, giải trí du lịch tăng 0.1%, chủ yếu tăng ở các mặt hàng dịch vụ văn hóa, bưu thiếp, hoa cây cảnh do trong tháng có ngày Quốc Tế Phụ nữ (8/3) nên nhu cầu cho các mặt hàng này tăng. Các mặt hàng thiết bị văn hoá giảm 0.08% do các công ty điện tử cạnh tranh đua nhau giảm giá.

Ngoài ra, giá thuốc và dịch vụ y tế tại các tỉnh tháng này tương đối ổn định chỉ tăng nhẹ ở mặt hàng thuốc kháng sinh tăng 0.28%; thuốc cảm tăng 0.08%. Trong khi đó, nhóm hàng may mặc, mũ nón, giầy dép có chỉ số giá tăng nhẹ với mức 0.05%, chủ yếu tăng ở một số mặt hàng may mặc khác như mũ, nón, áo mưa do ảnh hưởng của thời tiết, còn các mặt hàng khác giá ổn định hoặc giảm nhẹ.

Không nằm trong rổ hàng hóa tính giá, chỉ số giá vàng tháng 3 tăng 3.31% do giá vàng tháng này biến động mạnh và tăng theo giá vàng thế giới. Giá vàng giao ngay vào ngày 15/3 lên tới 1.386 USD/ounce cao nhất kể từ ngày 9/9/2013. Giá vàng trong nước đã rút ngắn hơn khoảng cách chênh lệch với giá vàng thế giới chỉ còn chênh cao hơn giá vàng thế giới đã quy đổi trên gần 2 triệu đồng một lượng; giá vàng trong nước ngày 15/3 dao động quanh mức 3.630.000đ/chỉ vàng 99.99. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng duy trì mức tăng nhẹ, chỉ 0.02%. Giá mua bán đô la Mỹ tháng này ổn định, do dự trữ ngoại hối của Ngân hàng dồi dào, các doanh nghiệp chưa có nhu cầu nhiều về đô la Mỹ sau Tết Nguyên Đán.

Người dân vẫn thắt chặt chi tiêu

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 03/2014 phản ánh diễn biến theo xu hướng giá nhiều hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng giảm sau Tết Nguyên Đán, phù hợp với quy luật tiêu dùng những năm trước đây. Trừ những năm 2008, 2010, 2011 quy luật tiêu dùng bị phá vỡ do chịu ảnh hưởng các đợt lạm phát hai con số, nguyên nhân từ sự tăng mức lương tối thiểu, sự tăng giá hàng hóa quốc tế, chính sách kích cầu, chính sách quản lý tỷ giá, sự mở cửa của Việt Nam với thế giới từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào cuối năm 2006.

Thực tế, chỉ số giá tháng 3/2014 giảm khá mạnh do nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ của người dân sau Tết Nguyên Đán đã giảm; giá các mặt hàng trở về mặt bằng trước Tết Nguyên Đán. Bên cạnh đó, kinh tế trong nước vẫn còn khó khăn nên người dân cũng cân nhắc hơn trong chi tiêu, chỉ tập trung vào các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 các năm gần đây

                                                                                       Đơn vị tính:%



Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

CPI tháng 3 năm báo cáo so với tháng trước (% tăng, giảm)

-0,5

 

 

 

 

 

-0,2

 

 

 

 

 

2,99

 

 

 

-0,17

 

 

 

0,76

 

 

 

2.17

 

 

 

0.16

 

 

 

-0.19

 

 

 

-0.44

CPI tháng 3 năm báo cáo so với tháng 12 năm trước (% tăng, giảm)

2.8

3.02

9.19

1.32

4.12

6.12

2.55

2.39

0.8

(T.Hương)