Giải pháp nào để tăng cường năng lực công tác thống kê Tài chính

Thuật ngữ “thống kê” được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất, thống kê là các con số được ghi chép để phản ánh các hiện tượng tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội; theo nghĩa thứ hai, thống kê được hiểu là hệ thống các phương pháp ghi chép, thu thập và phân tích các con số về những hiện tượng tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế, xã hội để tìm hiểu bản chất và tìm hiểu những qui luật vốn có của những hiện tượng ấy.

Giải pháp nào để tăng cường năng lực công tác thống kê Tài chính

Mục đích của việc ứng dụng thống kê trong thực tiễn là nhằm mô tả các sự kiện, hiện tượng khác nhau trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội từ mặt lượng sang mặt chất với nhiều góc độ khác nhau để rút ra những nhận xét và kết luận về bản chất các sự kiện, hiện tượng, cũng như tính quy luật và mối quan hệ giữa chúng.
Tại Việt Nam trước khi Luật Thống kê được ban hành, theo qui định của Pháp lệnh kế toán và thống kê được Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 20 tháng 5 năm 1988, thì hệ thống tổ chức thống kê nhà nước bao gồm hệ thống tổ chức thống kê tập trung (được tổ chức theo ngành dọc gồm cơ quan thống kê trung ương và các cơ quan thống kê địa phương), tổ chức thống kê bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hệ thống thông tin thống kê tập trung do Tổng cục Thống kê tổ chức thực hiện, gồm các thông tin chủ yếu về tình hình kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nư­ớc. Hệ thống này đư­ợc thu thập và tổng hợp từ thông tin của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trư­ởng, các cơ quan địa phương và đơn vị cơ sở theo nguyên tắc tập trung và thống nhất.
Hệ thống thông tin thống kê của các Bộ, Uỷ ban Nhà n­ước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban nhân dân các cấp gồm những thông tin để cung cấp cho hệ thống thông tin thống kê tập trung và những thông tin để đáp ứng yêu cầu quản lý của ngành và địa phương.
Qua khảo sát sơ bộ tại một số đơn vị như Tổng cục Thống kê, Ngân hàng nhà nước, hiện nay các thông tin chủ yếu đang được trao đổi giữa Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước bao gồm: Tình hình thu, chi ngân sách tháng, quí, năm; thông tin về tài chính ngân hàng và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp... Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin giữa Tổng cục Thống kê với Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính nói riêng cũng như giữa các bộ, ngành và các tổ chức khác với Tổng cục Thống kê chưa được thiết lập rõ ràng, mang nặng hình thức “xin cho”, cụ thể:

1. Tại các bộ, ngành chưa có đầu mối để thực hiện việc thu thập, biên tập, tổng hợp và cung cấp thông tin cho tổ chức thống kê quốc gia, việc thực hiện thu thập thông tin của tổ chức thống kê quốc gia được thực hiện thông qua các đơn vị nghiệp vụ. Ví dụ khi thu thập số liệu của Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống kê phải cử cán bộ trực tiếp đến thu thập từ các đơn vị:
- Số liệu về thu, chi ngân sách - Từ Vụ Ngân sách Nhà nước,
- Số liệu về doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế - Từ Tổng cục Thuế,
- Số liệu về xuất nhập khẩu - Từ Tổng cục Hải quan,
Ngược lại, việc khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý điều hành của mỗi đơn vị được thực hiện một cách thủ công, tự phát thông qua các đơn vị chức năng liên quan thuộc các bộ, ngành khác.

2. Tại các bộ, ngành vẫn tồn tại tình trạng cát cứ thông tin do đó hệ thống chỉ tiêu dữ liệu cung cấp từ các bộ ngành, không đáp ứng được yêu cầu của Tổng cục Thống kê và không tuân theo các tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế, việc cung cấp số liệu thiên về tổng hợp và chậm. Ví dụ nếu những số liệu mà Bộ Tài chính cung cấp thì Tổng cục Thống kê không thể lấy số chi tiết về thu theo sắc thuế, theo mặt hàng, thu theo tỉnh, thành phố... để phục vụ cho công tác tính GDP.
Nếu chúng ta không khắc phục được những tồn tại nêu trên sẽ gây cản trở rất lớn cho việc triển khai Luật Thống kê vào đầu năm 2004.
Trong bối cảnh chung của việc triển khai công tác thống kê quốc gia, việc tổ chức, triển khai công tác thống kê trong ngành Tài chính thời gian qua cũng còn có nhiều hạn chế và bất cập như: phương pháp thu thập, xử lý, hệ thống chỉ tiêu, chế độ báo cáo thống kê chưa thực hiện theo các nguyên tắc của chuyên môn thống kê và dựa trên các căn cứ khoa học. Những hạn chế trong công tác thống kê ngành Tài chính vẫn còn tồn tại:
- Tình hình xây dựng và quản lý các bảng danh mục dùng chung: Xuất phát từ yêu cầu của công tác quản lý, trong thời gian qua các đơn vị thuộc Bộ đã tiến hành xây dựng các bảng danh mục, phân loại. Tuy nhiên vì việc xây dựng được tiến hành một cách tự phát, nên hiệu quả sử dụng không cao và chưa có tính thống nhất trong toàn ngành. Mặc dù cho đến nay, tại các phần mềm ứng dụng vào hoạt động nghiệp vụ của các đơn vị trong ngành tài chính như: Kế toán kho bạc của cơ quan KBNN, Quản lý ngân sách của cơ quan Tài chính, Quản lý thuế của cơ quan Thuế… đều sử dụng các bộ mã danh mục trên, tuy nhiên trong các phần mềm này, đối với từng cơ quan mức độ có khác nhau. Ví dụ danh mục địa bàn hành chính do TCTK ban hành mới chỉ được sử dụng tại cơ quan Thuế và cơ quan Tài chính còn cơ quan Kho bạc đánh mã dựa trên cấu trúc mã thanh toán liên kho bạc. Hay chương trình quản lý Công sản (đã phát triển trước năm 2001) vẫn chưa sử dụng bảng mã đơn vị sử dụng ngân sách trong khi hệ thống Kho bạc và Ngân sách đã sử dụng và phát huy tốt bảng mã danh mục này. Để từng bước chuẩn hoá, hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng thống nhất hệ thống danh mục dùng chung trong các phần mềm ứng dụng của ngành tài chính đáp ứng theo yêu cầu của Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi; tạo tiền đề để triển khai các dự án trao đổi thông tin giữa các hệ thống: Ngân sách, Kho bạc, Thuế, Hải Quan. Sau khi đã tham khảo lấy ý kiến của Vụ NSNN, KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải Quan, Cục Tin học và Thống kê tài chính đang hoàn chỉnh dự thảo Quyết định Quy định “Hệ thống danh mục điện tử dùng chung ngành tài chính” trình Bộ phê duyệt.
- Về công tác tổ chức và đội ngũ cán bộ thống kê: Tính chuyên nghiệp trong công tác thống kê tài chính không cao, tại nhiều đơn vị cán bộ làm công tác thống kê chỉ là kiêm nhiệm hoặc việc tổ chức công tác thống kê được thực hiện đơn lẻ, tự phát theo các yêu cầu tác nghiệp chưa tuân thủ các tính tập trung, hệ thống trong toàn ngành. Theo kết quả khảo sát do Cục Tin học và Thống kê tiến hành thì chỉ có 5 trên tổng số 23 đơn vị và các hệ thống thuộc Bộ Tài chính đã thành lập bộ phận chuyên trách làm công tác thống kê đó là: Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải Quan, Cục Quản lý giá, Vụ Ngân sách NN và Học viện tài chính.
- Số lượng cán bộ làm công tác thống kê trong ngành hiện nay vừa thiếu về số lượng vừa không được đào tạo chuyên ngành thống kê mà chỉ được đào tạo nghiệp vụ (tài chính, ngân sách, thuế…), chưa nói đến tình trạng các cán bộ làm công tác thống kê trong suốt thời gian qua hầu như không được đào tạo bổ sung, cập nhật những kiến thức, phương pháp thống kê tiên tiến.
- Về các cơ sở dữ liệu phục vụ công tác thống kê: Số liệu thống kê nhà nước là thông tin thống kê có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống thông tin quốc gia và hệ thống thông tin thống kê tài chính là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên hệ thống thông tin này. Hiện nay, ngành Tài chính đang quản lý một khối lượng thông tin rất lớn, nhưng hầu hết dữ liệu lại phân tán, thiếu tính đồng nhất, không cập nhật liên tục theo chuỗi thời gian, tính ổn định của các chỉ tiêu không cao, không đáp ứng yêu cầu so sánh theo không gian và thời gian, trong nước và quốc tế. Ngoại trừ một số hệ thống lớn như: Thuế, Hải quan, Kho bạc, Ngân sách, Công sản và Doanh nghiệp được sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã thực hiện tổ chức, lưu trữ dữ liệu dưới dạng cơ sở dữ liệu (database), các đơn vị còn lại dữ liệu được lưu trữ dưới dạng văn bản, hoặc rải rác trên các máy tính dưới dạng các file doc, excel… Các bảng phân loại, danh mục chưa được chuẩn hoá; việc xây dựng, ban hành tại các đơn vị được tiến hành một cách tự phát, chưa tính toán đến khả năng tương thích với các bảng danh mục chuẩn quốc gia, quốc tế cũng như khả năng mở rộng theo thực tiễn và yêu cầu của Việt Nam.

--PageBreak--
- Về công tác cung cấp số liệu thống kê: Loại hình cung cấp thông tin thống kê chưa đa dạng, phong phú mà chỉ chủ yếu bằng các báo cáo định kỳ, thông tin chủ yếu mới là các số liệu thô ban đầu, hàm lượng thông tin được phân tích còn hạn chế. Các sản phẩm thống kê tài chính chưa được chuẩn hoá về thời gian, nội dung, hình thức, quy trình biên soạn. Chưa có đơn vị đầu mối để thực hiện việc cung cấp thông tin thống kê tài chính, sự phối hợp trong việc trao đổi, cung cấp thông tin giữa các đơn vị thuộc Bộ cũng như giữa Bộ Tài chính với các bộ, ngành khác còn nhiều hạn chế.
- Về mức độ ứng dụng CNTT vào công tác thống kê: Hiện nay mới có Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế, Vụ Ngân sách NN và Cục Quản lý công sản là các đơn vị đã thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác thu thập, xử lý dữ liệu phát sinh tại cơ sở, các đơn vị còn lại công tác tổng hợp dữ liệu được thực hiện thủ công thông qua chương trình Excel dưới dạng các mẫu biểu xây dựng sẵn.
- Về công tác phân tích, dự báo: Công tác phân tích và dự báo chưa sử dụng một cách rộng rãi và áp dụng một cách có hiệu quả các công cụ tin học, các mô hình phân tích, dự báo hiện đại như: mô hình kinh tế vĩ mô, mô hình cân bằng...
Sở dĩ trong thời gian qua, công tác thống kê trong ngành Tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, điều hành là do các nguyên nhân:
- Nhận thức chưa đầy đủ của một số cán bộ, đơn vị trong ngành về nhiệm vụ thống kê, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác thống kê nói chung và công tác thống kê tài chính nói riêng. khái niệm thống kê thường chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc thu thập báo cáo dẫn đến việc thu thập số liệu, lập và gửi báo cáo nhiều khi còn mang tính chiếu lệ, hình thức. Các yếu tố quyết định đến chất lượng của thông tin thống kê như: chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch chưa được coi trọng.
- Không có cơ sở pháp lý để tổ chức và triển khai công tác thống kê, chưa có văn bản pháp lý qui định, hướng dẫn tổ chức triển khai công tác thống kê thống nhất trong toàn ngành Tài chính, chưa tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra thống kê tài chính.
- Đầu tư cho công tác thống kê còn hạn chế, việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thu thập dữ liệu ban đầu cho công tác thống kê còn yếu, không đủ điều kiện để nâng cao năng lực và cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ thu thập, xử lý, tổng hợp, lưu trữ và cung cấp thông tin cho hệ thống thống kê quốc gia và cho yêu cầu quản lý của Bộ.
- Thiếu cơ chế cho việc cung cấp các thông tin tài chính: Từ năm 1998, thực hiện chủ trương của Chính phủ về công khai ngân sách, hàng năm Bộ Tài chính đã thực hiện cung cấp rộng rãi số liệu về dự toán, quyết toán ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội quyết định, phê chuẩn trên Website của Bộ Tài chính và dưới dạng văn bản, các báo cáo. Tuy nhiên những thông tin này mới chỉ giới hạn trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, trong khi đó còn một khối lượng lớn thông tin do Bộ Tài chính quản lý liên quan đến các lĩnh vực như: bảo hiểm, doanh nghiệp, đầu tư, xuất nhập khẩu,...còn chưa có cơ chế rõ ràng, các chỉ tiêu thông tin được phép cung cấp cũng chưa xác định.
Ngoài ra, như phân tích ở trên cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và các tổ chức khác trong việc cung cấp, trao đổi thông tin tài chính liên quan chưa được thiết lập rõ ràng, cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc triển khai công tác thống kê của ngành.
Thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin thống kê phục vụ cho công tác lãnh đạo của Đảng và Chính phủ cũng như công tác chỉ đạo của các ngành các cấp là một nhiệm vụ rất quan trọng, việc thông tin toàn diện, đầy đủ và kịp thời là một yêu cầu cấp bách để điều hành và chỉ đạo mọi hoạt động của nền kinh tế phát triển trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian tới để xây dựng công tác thống kê tài chính trở thành một trong những công cụ sắc bén để nhận thức, đánh giá các hoạt động tài chính của đất nước, từng bước đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế của ngành tài chính đòi hỏi chúng ta cần phải thực hiện đồng bộ một số biện pháp sau:

1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác thống kê cho cán bộ Lãnh đạo và bản thân các cán bộ làm công tác Thống kê.
Song song với việc xây dựng và ban hành các qui định về tổ chức và thực hiện công tác thống kê thống nhất trong ngành tài chính, cần phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến toàn bộ các cán bộ trong ngành tài chính về vai trò, tầm quan trọng của công tác thống kê trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt việc thu thập, lưu trữ và cung cấp thông tin thống kê phục vụ công tác quản lý. Coi công tác thống kê là một trong những nhiệm vụ trọng tâm phải triển khai trong những năm tới của ngành Tài chính.

2. Có biện pháp đầu tư nguồn lực tài chính tương xứng. ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để phát triển thống kê tài chính.
- Nhà nước đảm bảo kinh phí cho hoạt động thống kê thường xuyên, các cuộc điều tra theo chu kỳ và các điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện, đặc biệt hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, thực hiện tin học hoá công tác thống kê trong ngành tài chính, xây dựng và phát triển các phần mềm ứng dụng chuyên dùng cho công tác thống kê tài chính nhằm tự động hoá các khâu xử lý, tính toán, phân tích thống kê.
- Xây dựng và củng cố hệ thống Trung tâm CSDL tại Bộ Tài chính và tại các hệ thống cũng như khu vực thuộc Bộ Tài chính theo hướng hiện đại hoá đảm bảo thuận tiện cho việc truy cập, khai thác cơ sở dữ liệu thống kê tài chính nhưng vẫn thực hiện đúng nguyên tắc bảo mật.

3. Củng cố hệ thống tổ chức và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công tác thống kê tài chính.
Củng cố tổ chức thống kê tập trung theo mô hình quản lý ngành gồm: Bộ Tài chính, Sở Tài chính tỉnh, thành phố, Phòng tài chính huyện, quận, thị xã; hệ thống thống kê các tổ chức ngành dọc trực thuộc. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và phương pháp phân tích dự báo áp dung thống nhất trong toàn ngành Tài chính đáp ứng được các yêu cầu:
- Hệ thống chỉ tiêu thống kê tài chính phải được thể chế hoá, đồng bộ và đáp ứng được yêu cầu về thông tin thống kê tài chính phục vụ quản lý, điều hành của Bộ cũng như của các đối tượng sử dụng khác.
- Xây dựng và áp dụng phương pháp thống kê hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam và từng bước đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế của ngành tài chính.
- Chuẩn hoá hệ thống các phân loại, danh mục sử dụng trong ngành.
- Hoàn thiện và chuẩn hoá các sản phẩm thống kê bao gồm: Niên giám Thống kê Tài chính; các báo cáo thống kê tài chính; sản phẩm công bố các cuộc điều tra thống kê; các sản phẩm công bố số liệu thống kê nhiều năm (5 năm, 10 năm,...) và các ấn phẩm thống kê khác.
Kiện toàn tổ chức làm công tác tin học thống kê tại các Sở Tài chính, hệ thống trực thuộc theo hướng mỗi Sở Tài chính, hệ thống trực thuộc có tổ chức làm công tác tin học thống kê đủ năng lực và cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ thu thập, xử lý, tổng hợp, lưu giữ và cung cấp thông tin cho hệ thống thống kê tài chính và cho yêu cầu quản lý của các đơn vị.
Xây dựng mạng lưới đội ngũ cộng tác viên cung cấp dữ liệu và thông tin, có chế độ đãi ngộ thích hợp.
Đào tạo đội ngũ cán bộ của ngành có kiến thức chuyên sâu về Thống kê Tài chính Chính phủ.
Tăng cường sử dụng các nguồn số liệu có sẵn cho công tác thống kê tài chính như tài liệu của hệ thống thuế, hệ thống hải quan, doanh nghiệp,... nhằm nâng cao chất lượng của số liệu thống kê tài chính, góp phần tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước.

4. Xây dựng cơ chế hợp lý tạo điều kiện cho việc thu thập, phổ biến và cung cấp số liệu thống kê tài chính.
Trong bối cảnh của xã hội thông tin và hội nhập, thông tin thị trường phải được phổ cập rộng rãi và được nhiều đối tượng sử dụng, trừ thông tin thuộc loại bí mật.
- Cục Tin học và Thống kê tài chính và các tổ chức thống kê chuyên ngành trực thuộc được áp dụng cơ chế dịch vụ thống kê, được thu phí khi cung cấp các thông tin thống kê tài chính, các sản phẩm thống kê tài chính cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng tin cho mục đích sản xuất, kinh doanh, hoạt động sinh lợi khác.
- Cần xây dựng qui định rõ ràng, minh bạch có phân công, phân cấp trong việc trao đổi, cung cấp thông tin giữa các cơ quan của Chính phủ, cũng như giữa các cơ quan trung ương và địa phương.

5. Thực hiện hợp tác quốc tế và thuê chuyên gia tư vấn trong lĩnh vực thống kê tài chính.
- Tăng cường, chủ động hợp tác với các tổ chức của Liên hợp quốc, các tổ chức thống kê quốc tế, các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới; thuê chuyên gia tư vấn nhằm mục đích tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ, nghiệp vụ thống kê tiên tiến, hiện đại, các chuẩn mực quốc tế, trao đổi kinh nghiệm, tranh thủ sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính.
- Đẩy mạnh sự trao đổi trong việc khai thác thông tin thống kê tài chính quốc tế nhằm thu thập số liệu thống kê tài chính quốc tế phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và điều hành trong nước, đảm bảo cung cấp số liệu cho các tổ chức và sản phẩm thống kê quốc tế. 

(Hoàng Xuân Nam)