Gõ cửa đầu năm công tác thống kê tài chính

Sự tồn tại và phát triển của công tác thống kê tài chính gắn với sự tồn tại và phát triển của mỗi Nhà nước. Tạp chí Tin học Tài chính đã có cuộc trò chuyện với ông Phạm Công Minh – Phó cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính xung quanh những bước tiến mà công tác thống kê tài chính đạt được trong thời gian qua.

Ông Phạm Công Minh – Phó cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính. Ảnh: Thúy NgàÔng Phạm Công Minh – Phó cục trưởng Cục Tin học và Thống kê tài chính. Ảnh: Thúy Ngà

PV: Bộ Tài chính đã phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển Hệ thống thông tin thống kê tài chính đến năm 2010 nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác hoạch định chính sách và lập kế hoạch tài chính, ngân sách quốc gia. Cho tới thời điểm này, Đề án có thực hiện được đúng tiến độ không, thưa ông?

 

Ông Phạm Công Minh: Đề án xây dựng và phát triển hệ thống thông tin thống kê tài chính đến năm 2010 được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt tại Quyết định số 1158/QĐ-BTC vào tháng 4/2004. Theo đề án, việc triển khai được thực hiện theo 2 giai đoạn: giai đoạn một thực hiện trong năm 2004 và 2005 (trước khi Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống chỉ tiêu quốc gia) phải “Củng cố, bổ sung hệ thống chỉ tiêu, báo cáo thống kê hiện có”; giai đoạn 2 tiếp theo đến 2010, tức là sau khi Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống chỉ tiêu quốc gia, thì phải “Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống chỉ tiêu và chế độ thông tin báo cáo, và phương pháp phân tích dự báo tại Bộ Tài chính, theo yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu quốc gia và thuộc các lĩnh vực do Bộ quản lý. Triển khai thực hiện theo hệ thống mới”.

Như vậy nếu căn cứ theo kế hoạch kể trên, thì hiện nay chúng ta đã có hệ thống chỉ tiêu và báo cáo, tổng hợp thông tin theo hệ thống chỉ tiêu quốc gia, thể hiện là Quyết định số 148/2007/QĐ-BTC ngày 12/1/2007 vừa qua. Việc còn lại chỉ là tăng cường công tác nghiên cứu, phân tích, dự báo, mà những việc này đã liên tục được thực hiện, thể hiện cụ thể là các bài phân tích giới thiệu trong các Niên giám thống kê tài chính hàng năm của 3 năm trở lại đây.

Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng như vậy chưa đủ bởi còn chưa đáp ứng được nhiều nội dung thông tin, yêu cầu từ phía lãnh đạo Bộ, cũng như từ những người quan tâm khai thác các thông tin thống kê. Hơn nữa, hệ thống chỉ tiêu của ta xây dựng còn cần được điều chỉnh để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, bởi nước ta đã là thành viên của WTO. Kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính châu Á những năm cuối thập kỷ 90 vừa qua cho thấy các nhu cầu trao đổi thông tin phục vụ cảnh báo, dự báo tình hình tài chính khu vực và những tác động đối với mỗi nước… vẫn đang là những bức xúc mà chúng ta cần phấn đấu.

Hiện nay chúng tôi đang triển khai dự án tư vấn phát triển hệ thống thông tin thống kê tài chính do USTDA tài trợ. Dự kiến dự án sẽ kết thúc trong nửa đầu năm 2008. Sơ bộ qua các kết quả ban đầu cho thấy công việc đang tiến triển khả quan.


PV: Ông đánh giá thế nào về hệ thống thông tin thống kê tài chính? Liệu có thể coi đây là một hệ thống thông tin tốt chưa?

 

Ông Phạm Công Minh: Một hệ thống thông tin được gọi là tốt, chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu của những người khai thác, đồng thời được nhiều người khai thác. Trong mấy năm gần đây, hoạt động thu thập và xử lý, tổng hợp các thông tin tài chính đã và đang được liên tục sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với khả năng nguồn và nhu cầu của người khai thác.

Năm 2000, Bộ Tài chính đã có Quyết định số 185/2000/QĐ-BTC ban hành chế độ thông tin báo cáo thống kê định kỳ trong cơ quan Bộ Tài chính, theo đó Cục Tin học và Thống kê tài chính đã đưa vào sử dụng phần mềm ứng dụng “Chương trình thông tin báo cáo phục vụ lãnh đạo” trên trang điện tử của Bộ để việc thu thập và cung cấp thông tin được nhanh chóng và thuận lợi.

Đến năm 2005, trước nhiều yếu tố mới và một số bất cập, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 616/QĐ-BTC sửa đổi, bổ sung lại chế độ theo Quyết định 185 trước đây. Sau đó, trên cơ sở Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được ban hành và những đòi hỏi ngày càng cao đối với hệ thống thông tin thống kê tài chính, năm 2007 Bộ Tài chính đã ban hành tiếp Quyết định số 148/QĐ-BTC để chỉnh sửa đáp ứng với các yêu cầu thực tế.

Như vậy, ở đây có sự tác động qua lại giữa một bên là nhu cầu khai thác thông tin ngày càng nhiều hơn, đồng thời ngày càng nhiều người khai thác thông tin hơn với một bên là thông tin ngày càng được tăng cường thêm cả về số lượng và chất lượng. Đương nhiên, điều này có nghĩa là một hệ thống thông tin chỉ có thể tạm thời đáp ứng được yêu cầu ở một  khoảng thời gian nào đó, chứ không thể luôn luôn thoả mãn nhu cầu của người khai thác mà không có sự đổi mới, bổ sung.

 

PV: Có thể hiểu là công tác thông tin thống kê tài chính luôn phải đặt trong tình trạng  phải khắc phục các mặt hạn chế? Ông có thể cho biết cụ thể hơn về những mặt hạn chế đó?

 

Ông Phạm Công Minh: Như tôi đã nói ở trên, Hệ thống thông tin thống kê tài chính hiện nay cũng đang tồn tại những mặt hạn chế, trước hết đó là về thông tin cơ bản, cơ sở. Bộ Tài chính quản lý toàn bộ nền tài chính quốc gia, nhưng hệ thống thông tin của Bộ Tài chính lại chủ yếu dựa vào các nguồn báo cáo từ các đơn vị thuộc Bộ, mà chưa thu thập, cập nhật được nhiều thông tin liên quan tới các nguồn tài chính quốc gia do các Bộ, ngành, đơn vị khác được giao quản lý,  phụ trách. Chẳng hạn như các thông tin về các quỹ nhà nước cạnh ngân sách (các quỹ bảo hiểm, các quỹ an sinh xã hội, …), hoặc như tiềm năng tài chính của toàn bộ dân cư trên đất nước ta, hoặc giá trị của toàn bộ tài sản quốc gia,… Hơn nữa việc tổng hợp các nguồn thông tin ấy cũng  phải theo nhiều chỉ tiêu khác nhau để đáp ứng nhiều loại nhu cầu khai thác thông tin khác nhau.

Mặt khác như chúng ta đã biết, bản thân các thông tin thống kê mà chỉ được “phơi bày nguyên trạng” thì hiệu quả của hệ thống thông tin ấy cũng chưa cao, mà quan trọng hơn là nó còn phải nói lên được tính quy luật khách quan của mỗi thông tin được đưa ra. Có như vậy các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý mới thấy được tác dụng của các chính sách, biện pháp đã thực hiện của mình ra sao, từ đó có thể đề ra được công việc tiếp theo sẽ nên điều chỉnh thế nào.

Cũng cần phải đặc biệt lưu ý là trong môi trường CNTT phát triển mạnh mẽ như vũ bão hiện nay, hệ thống thông tin của chúng ta cũng phải có công cụ hiện đại để thu thập và cung cấp thông tin, nghĩa là tạo môi trường để đáp ứng thuận tiện nhất cho người khai thác thông tin và cho nhiều người cùng khai thác thông tin một lúc.

 

PV: Theo ông để giải “bài toán khó” kể trên thì cần phải chú trọng những vấn đề gì?

 

Ông Phạm Công Minh: Hiểu như vậy, nhưng không phải cứ hiểu là làm được ngay, bởi vì để khắc phục được những mặt hạn chế đó thì đòi hỏi phải điều chỉnh từ giải pháp tổ chức hệ thống thông tin, đến nâng cao thường xuyên năng lực của những người làm công tác thống kê, đồng thời phải có bước đi rõ ràng và phù hợp với thực tế luôn biến động như hiện nay.

Một yếu tố nữa cũng hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến công tác thống kê tài chính đó là sự quan tâm và nhu cầu sử dụng hệ thống thông tin thống kê tài chính của các cấp lãnh đạo ngành tài chính, cũng như của những người có nhu cầu nghiên cứu, phân tích các vấn đề có liên quan đến tài chính.

Sự quan tâm đó sẽ là động lực thúc đẩy công tác thống kê tài chính phải luôn vươn lên, đồng thời đòi hỏi những người làm công tác thống kê tài chính cũng phải tự phấn đấu, nỗ lực cao nhất trong công việc của mình.
Đây là “bài toán khó” không dễ giải được ngay, dù nó đã được nghĩ, đang nghĩ và cần phải tiếp tục suy nghĩ.

 

PV: Xin cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn!

 

 

 
Gõ cửa đầu năm công tác thống kê tài chính ảnh 1
Tiến sỹ Kinh tế Robert E. Firestine. Ảnh: K.Hoa

Tiến sỹ Kinh tế Robert E. Firestine: 
Mục lục ngân sách của Việt Nam tương đối tốt, vì tôi có thể dễ dàng kết nối sang hệ thống GFS mà không gặp khó khăn gì, đó là ưu điểm của hệ thống thống kê tài chính Việt Nam. Tuy nhiên, ở đây có 2 điểm yếu khá phổ biến ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đó là: số liệu thống kê không được cập nhật, do việc thu thập số liệu thống kê tài chính sau khi kết thúc năm tài khóa đến khi thông tin có thể sử dụng được là khá lâu. Bình thường thì quãng thời gian này chỉ nên không quá một vài tháng, nhưng ở Việt Nam thì tới hàng năm.

Việc chậm cập nhật số liệu đã ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề dự báo và hoạch định chính sách của các nhà lãnh đạo, quản lý, của Chính phủ. Các nhà đầu tư nước ngoài khi muốn đầu tư vào Việt Nam cũng cần phải nhìn vào số liệu thống kê tài chính được cập nhật để đánh giá được tình hình kinh tế và vai trò của chính phủ đối với nền kinh tế đó, từ đó họ mới quyết định có đầu tư vào Việt Nam hay không, đầu tư ít hay nhiều... Nếu họ nhìn vào số liệu thống kê đã cũ từ cách đây vài năm thì tất nhiên họ sẽ không thể ra được một quyết định đầu tư nào.

Theo tôi để khắc phục sự chậm trễ kể trên, việc ứng dụng CNTT vào công tác thống kê tài chính của Việt Nam cần phải được đồng bộ từ trung ương cho tới địa phương.

   
(Kim Hoa thực hiện)