Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia - những yếu tố cần được điều chỉnh

Luật Thống kê đã được Quốc hội Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 17/6/2003 và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004.

Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia - những yếu tố cần được điều chỉnh

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã có Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/2/2004 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê. Đây là những văn bản pháp lý cao nhất về lĩnh vực thống kê, điều chỉnh toàn bộ hoạt động thống kê Nhà nước, có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân cung cấp và sử dụng thông tin thống kê, tổ chức thống kê và người làm công tác thống kê. Tuy nhiên, từ những cơ sở pháp lý kể trên, làm thế nào để công tác thống kê có thể phản ánh được sát thực và sinh động tình hình kinh tế xã hội, đáp ứng được những yêu cầu của người sử dụng thông tin thống kê lại là vấn đề khác. Điều này đòi hỏi ngành Thống kê nói riêng và thống kê của các Bộ, ngành nói chung phải liên tục đổi mới, liên tục hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ, trong đó một trong những việc đầu tiên cần phải gấp rút tiến hành đó là việc xây dựng và hoàn thiện Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia. 

Vì sao phải thay đổi Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia?

Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống kê chủ yếu, phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng yêu cầu đánh giá, phân tích thực trạng kinh tế - xã hội thời kỳ đó và dự báo tình hình, xây dựng, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ tiếp theo. Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia là xương sống của hoạt động thống kê và bộ máy thống kê Nhà nước, một mặt thể hiện yêu cầu cơ bản nhất, cấp thiết nhất của xã hội đối với công tác thống kê, mặt khác, làm căn cứ cho việc xây dựng các chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chương trình điều tra thống kê quốc gia, chế độ báo cáo thống kê cơ sở và sự phân công, phân nhiệm trong thu thập, tổng hợp và công bố số liệu thống kê.

Nếu ngược dòng thời gian thì thấy rằng, sau nhiều năm xây dựng và bổ sung hoàn thiện, đến năm 1970 ngành Thống kê nước ta đã có được Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia (Hệ thống cân đối sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân - The Material Product System - MPS) tương đối hoàn chỉnh và được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định 168/TTg ngày 17/9/1970. Với 297 chỉ tiêu thuộc 13 lĩnh vực, Hệ thống chỉ tiêu này đã phát huy tác dụng tích cực trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp trước đây để làm chuẩn mực cho việc thu thập, xử lý, tính toán và báo cáo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp phục vụ cho các cơ quan Đảng, Nhà nước đề ra các mục tiêu chiến lược và đường lối chính sách phát triển kinh tế, đồng thời đáp ứng cho nhiều đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau. Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Hệ thống chỉ tiêu này có nhiều nội dung không còn phù hợp (cho dù trong suốt 34 năm qua, nhất là những năm thời kỳ Đổi mới, hệ thống này cũng đã thường xuyên được hoán cải và nâng cấp). Bên cạnh đó, do còn quá nhiều bất cập trong tổ chức và hoạt động nên vẫn gặp phải tình trạng chồng chéo trong thu thập, xử lý và công bố thông tin thống kê làm hạn chế không ít tính chính xác và độ tin cậy của các số liệu thống kê được công bố. Thêm vào đó, do thiếu các chỉ tiêu phù hợp, nhất là các chỉ tiêu kinh tế theo thông lệ quốc tế, nên các kết quả thống kê trong nước ít có giá trị so sánh quốc tế.

Có thể chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng trong đó có nguyên nhân lớn là chưa kịp đổi mới và hoàn thiện Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia nói chung và Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê ngành nói riêng để đáp ứng yêu cầu của cơ quan Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách cũng như nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức có liên quan trong và ngoài nước. Chính vì vậy, hiện nay Tổng cục Thống kê đang nỗ lực phối hợp với các Bộ, ngành, kể cả sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, để ban hành chế độ báo cáo và điều tra thống kê, áp dụng Hệ thống Tài khoản Quốc gia - SNA của Liên Hợp quốc để thay thế những chỉ tiêu không còn phù hợp, bổ sung những chỉ tiêu còn thiếu và phương pháp tính toán lạc hậu, nhằm kịp đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế và xã hội trong nước cũng như quốc tế hiện nay.

Dự thảo Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia đã phù hợp chưa?

Với 285 chỉ tiêu, trong đó có 142 chỉ tiêu kinh tế, 143 chỉ tiêu xã hội và môi trường, Dự thảo Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia được Tổng cục Thống kê đưa ra lần này được giới chuyên môn đánh giá là khá chi tiết và đầy đủ, đã đáp ứng được yêu cầu thông tin quản lý, điều hành đất nước. Tuy nhiên, để không sớm bị lạc hậu so với mặt bằng chung của thống kê thế giới, khi xây dựng và đánh giá Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia chúng ta cần phải đối chiếu, so sánh với Hệ thống chỉ tiêu của các nước và vùng lãnh thổ, mà trước hết là so sánh, đối chiếu với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, Hệ thống chỉ tiêu mới theo thông lệ quốc tế cũng cần tính đến trình độ phát triển của Việt Nam, bởi vì trên thực tế có những chỉ tiêu tuy được coi là thông lệ quốc tế nhưng ở Việt Nam rất khó điều tra, thu thập.

Bên cạnh đó, nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước đang phát sinh và phát triển. Do vậy, khi xây dựng và đánh giá Hệ thống Chỉ tiêu Quốc gia cần phải tính tới "tuổi thọ" của hệ thống. Nói một cách khác, chúng ta phải xác định được hệ thống chỉ tiêu này áp dụng với độ dài thời gian "mở" ít nhất là bao nhiêu: cho 10 năm, 15 năm, 20 năm hay lâu hơn thế nữa. Xác định khoảng thời gian mở như vậy sẽ khắc phục được tư tưởng chỉ chú tâm tới "tính khả thi" của những chỉ tiêu với những điều kiện hạn hẹp trước mắt (chỉ tiêu đang hoặc có khả năng thu thập, tổng hợp trong một vài năm tới), mà ít tính tới những chỉ tiêu hiện nay chưa thể, hoặc thậm chí trong vòng 5 -7 năm tới cũng chưa làm được, nhưng trên thực tế là rất cần phải bắt tay vào làm ngay từ bây giờ và sẽ làm được trong vòng 10-15 năm tới. Tiến sĩ Trần Kim Đồng - Vụ trưởng Vụ Thống kê Tổng hợp, Tổng Cục Thống kê cũng có ý kiến về vấn đề này, ông cho rằng: dường như Dự thảo Hệ thống chỉ tiêu của chúng ta hiện nay có vẻ như chỉ thiên về sử dụng nguồn thông tin từ các cuộc điều tra mà Tổng cục Thống kê và các Bộ, ngành, địa phương đã và đang thực hiện, cho nên nhiều chỉ tiêu được dự kiến với kỳ cung cấp là 5 năm, thậm chí là 10 năm. Trên thực tế ở Việt Nam cũng đang tiến hành tổng điều tra dân số 10 năm một lần và điều tra mức sống dân cư 2 năm một lần, nhưng nếu 10 hoặc 15 năm nữa chu kỳ của các cuộc điều tra này rút ngắn lại như một số nước đang tiến hành thì rõ ràng hệ thống chỉ tiêu được soạn thảo hôm nay sẽ nhanh chóng trở thành lạc hậu. Mặt khác, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, có thể thấy trong những năm tới Việt Nam vẫn chưa thể tiến hành cùng lúc hàng loạt các cuộc điều tra thống kê, mà dù có tiến hành được đi chăng nữa thì cũng không thể không dựa vào các nguồn khai thác thông tin đặc biệt quan trọng khác như sử dụng các báo cáo thống kê tổng hợp, khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu và hồ sơ đăng ký hành chính... để đưa vào Hệ thống Chỉ tiêu Quốc gia. Xét trên khía cạnh đó thì việc xây dựng và đánh giá Hệ thống Chỉ tiêu Quốc gia phải tính tới khả năng thu thập thông tin dưới nhiều hình thức và từ nhiều nguồn khác nhau chứ không nên và không thể chỉ dựa vào mỗi kết quả các điều tra thống kê.

Theo ông Chu Quang Cường, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong kết cấu của Dự thảo Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia nếu xem xét theo kỳ cung cấp thì số lượng chỉ tiêu ngắn hạn (quý, tháng) chưa đủ độ cần thiết, nhất là số lượng chỉ tiêu ngắn hạn trong phần xã hội và môi trường. Trong số 143 chỉ tiêu xã hội và môi trường thì số chỉ tiêu tháng, quý chưa tới mười chỉ tiêu. Còn xem xét kết cấu theo Bộ, ngành thì có những Bộ, ngành nắm giữ lĩnh vực kinh tế - xã hội then chốt của đất nước và tụ hội khá nhiều thông tin kinh tế - xã hội quan trọng thì lại chưa được phân công làm đầu mối chủ trì thu thập, tổng hợp số liệu mà chỉ được xếp ở cột "phối hợp". Như vậy, để Hệ thống chỉ tiêu quốc gia thực sự mang tính khoa học và đáp ứng những yêu cầu đặt ra thì nhất thiết phải nâng cao hơn nữa vai trò cung cấp số liệu thống kê của các Bộ, ngành theo tinh thần: với các chỉ tiêu mang tính chuyên ngành, liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước của Bộ ngành nào thì Bộ ngành đó chịu trách nhiệm chủ trì thu thập, Tổng cục Thống kê chỉ là cơ quan thẩm định, phối hợp và trợ giúp về mặt kỹ thuật nghiệp vụ thống kê.

Về quan điểm phía Tổng Cục Thống kê cũng cho biết: Khi xây dựng và đánh giá Hệ thống Chỉ tiêu Quốc gia cần quan tâm thích đáng và thể hiện rõ hơn tiêu chí của hệ thống này với tư cách là căn cứ để “điều phối, chia sẻ thông tin” giữa các Bộ, ngành và địa phương. Nếu coi vấn đề này là một tiêu chí quan trọng thì mỗi Bộ, ngành và địa phương sẽ xác định rõ hơn trách nhiệm của mình với tư cách là những người “sản xuất” và đóng góp thông tin; đồng thời cũng nhận thấy quyền lợi được chia sẻ thông tin với tư cách là người sử dụng thông tin. Vì vậy, Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia phải được coi là nơi tụ hội được các nguồn thông tin một cách tích cực từ các Bộ, ngành và địa phương để cũng từ đó có nhiều thông tin chia sẻ, góp phần giảm bớt sự chia cắt, cát cứ thông tin còn tồn tại hiện nay.

Tuy nhiên hiện nay, tại điều 25 của Luật Thống kê lại quy định: “Thủ trưởng cơ quan thống kê Trung ương công bố thông tin thuộc Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia” còn “Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì công bố thông tin thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách ngoài các thông tin thống kê thuộc Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia”. Như vậy, để không trái Luật và đảm bảo tính hợp lý về quyền công bố thông tin của các Bộ, ngành thì các chỉ tiêu thống kê quốc gia phải là những chỉ tiêu do Tổng cục Thống kê tính toán trên cơ sở nguồn số liệu của các cơ quan khác cấp. Tuy nhiên, ở đây lại nảy sinh vấn đề mà theo bà Nguyễn Thị Kim Thanh - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thì Tổng cục Thống kê phải là cơ quan biên soạn trên cơ sở nguồn số liệu của các đơn vị khác cung cấp chứ không phải công bố nguyên mẫu các số liệu do đơn vị khác biên soạn. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì mức độ tin cậy về số liệu sẽ bị giảm nếu như một đơn vị đứng ra công bố những số liệu vốn không thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Bên cạnh đó, các cấp độ "Mật" của thông tin cũng là yếu tố để các đơn vị phải xem xét lựa chọn đưa vào Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia cho phù hợp. Ví dụ, trong Dự thảo Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia có đưa ra chỉ tiêu về “Dự trữ Quốc tế” là một trong những Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia (thông lệ quốc tế cũng vậy), nhưng theo quy định tại Điểm 4, Điều 2, Quyết định số 15/2003/QĐ-TTg ngày 20/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ thì Dự trữ ngoại hối của Nhà nước lại do Ngân hàng Nhà nước quản lý và thuộc danh mục “Tối mật”. Như vậy rõ ràng ở đây đòi hỏi Tổng cục Thống kê cần phải xem xét, điều chỉnh hết sức thận trọng và kỹ lưỡng để sao cho các Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia của Việt Nam vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đáp ứng được yêu cầu đảm bảo những thông tin bí mật quốc gia v.v.

Dự thảo Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia đang tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp rộng rãi từ các Bộ ngành và sẽ sớm được hoàn thiện và công bố, hy vọng rằng đây sẽ là một trong những phương tiện hữu hiệu trong việc quản lý và điều hành đất nước, đáp ứng các yêu cầu của các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà kinh doanh và đầu tư, các tổ chức quốc tế và những nhu cầu sử dụng thông tin khác. Hệ thống Chỉ tiêu Thống kê Quốc gia mới của Việt Nam đồng thời sẽ đảm bảo sự thống nhất về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, biểu mẫu, phương pháp tính toán, bảng phân loại, đơn vị đo lường, và quan trọng hơn là tăng khả năng tin học hóa thông tin thống kê, loại trừ những trùng lặp, trồng tréo giữa các chế độ báo cáo và điều tra thống kê, giảm thiểu chi phí, nâng cao tính trung thực, khách quan, chính xác và tính kịp thời của số liệu thống kê, cũng như bảo đảm các yêu cầu so sánh quốc tế.

(Chí Thanh)