Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng ước đạt gần 120,7 tỉ USD

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) 9 tháng đầu năm 2015 ước đạt gần 120,7 tỉ USD, bằng 73,1% mục tiêu kế hoạch và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2014 (tương đương với 10,6 tỷ USD).

Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt hơn 82,2 tỷ USD, tăng 21,1%; xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước đạt 35,5 tỷ USD giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, KNXK bình quân trong 9 tháng đầu năm ước đạt 13,4 tỷ USD/tháng, 9 tháng có 24 mặt hàng có KNXK trên 1 tỷ USD.

Xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung. Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng trưởng 19,2% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 78,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi đó nhóm hàng nông sản, thủy sản và nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản gặp nhiều khó khăn, lần lượt giảm 9,9% và 45,5% so với cùng kỳ.

Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản: 9 tháng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15,142 tỷ USD, chiếm 12,5% trong tổng KNXK, trong đó có những mặt hàng có KNXK giảm mạnh: cà phê 31,6%, gạo 14,3%, cao su 11,6%. Các mặt hàng có giá xuất khẩu bình quân giảm là: cà phê 1,6%, gạo 6,2%, sắn 3,3%, cao su 19,3%. Giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của nhóm giảm so với cùng kỳ đã làm giảm 53 triệu USD KNXK của nhóm; biến động về lượng xuất khẩu của nhóm cũng làm giảm 842 triệu USD KNXK của nhóm. Tính chung sự biến động của cả giá và lượng của nhóm nông sản đã làm giảm 895 triệu USD KNXK.

Nhóm nhiên liệu và khoáng sản: 9 tháng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 3,9 tỷ USD, chiếm gần 3,2% trong tổng KNXK, giảm 45,5% so với cùng kỳ. Trong số 4 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nhóm có dầu thô và xăng dầu có lượng xuất khẩu tăng nhẹ. Các mặt hàng như than đá, quặng và khoáng sản khác lượng xuất khẩu đều giảm, trong đó than đá giảm 77%. Dầu thô và xăng dầu đều có giá xuất khẩu bình quân giảm cho ảnh hưởng giảm của giá dầu thế giới. Tính chung do biến động giá và lượng của nhóm hàng này (do giá dầu thô giảm) đã làm KNXK giảm mạnh (3,3 tỉ USD).

Nhóm hàng công nghiệp chế biến: 9 tháng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 94,954 tỷ USD, chiếm hơn 78,7% trong tổng KNXK, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm ngoái, đây là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và là nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng KNXK. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhóm vẫn giữ được mức tăng trưởng khá: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 52,8%, điện thoại các loại và linh kiện 34,3%, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy 32,8%, vải các loại 28,4%.

Nhóm hàng hoá khác ước đạt 6,7 tỷ USD, chiếm 5,5% trong tổng KNXK, tăng 4,5% so với cùng kỳ.

Cũng theo báo cáo 9 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu tăng không đồng đều trên tất cả các thị trường, thị trường Châu Á có mức tăng trưởng 8,1% chiếm tỷ trọng cao nhất 49% trong các khu vực thị trường, trong đó, khu vực Đông Á chiếm 29,7%, 2 nước Nhật Bản và Trung Quốc chiếm lần lượt là 8,7% và 10,4%.

Thị trường xuất khẩu của một số nước tại khu vực Châu Á có sự tăng trưởng mạnh, tập trung vào các nước như Indonesia, Lào, Myanmar, Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông... Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào thị trường này vẫn là các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như: Sợi dệt các loại, hàng dệt may, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại các loại, sắt thép, thủy sản, cà phê, giày dép, hạt điều...

(Thanh Huyền)