Liên quan tới khái niệm về dự báo

Thuật ngữ dự báo có nguồn tiếng Hy Lạp “Pro” (nghĩa là trước) và “grosis” (có nghĩa là biết), “Progrosis” có nghĩa là biết trước một số dùng thuật ngữ “Forecast”. 
Phần 1: Liên quan đến khái niệm cơ bản về thống kê - dự báo
Phần 2: Liên quan đến khái niệm cơ bản về thống kê - dự báo

Liên quan tới khái niệm về dự báo

Bản thân thuật ngữ dự báo đã nói lên thuộc tính không thể thiếu được của bộ não con người: đó là sự phản ánh vượt trước. 

Khái niệm về dự báo 

Thuật ngữ dự báo có nguồn tiếng Hy Lạp “Pro” (nghĩa là trước) và “grosis” (có nghĩa là biết), “Progrosis” có nghĩa là biết trước một số dùng thuật ngữ “Forecast”. Bản thân thuật ngữ dự báo đã nói lên thuộc tính không thể thiếu được của bộ não con người: đó là sự phản ánh vượt trước. Trong lịch sử phát triển của loài người con người luôn hướng về phía trước, cố gắng hướng đến một tương lai ngày càng tốt đẹp hơn. Những cố gắng ban đầu đó đó được thể hiện dưới hình thức là các ước đoán, những hy vọng thiếu căn cứ, những ước muốn viển vông thiếu cơ sở khoa học mạng nặng tính kinh nghiêm. Ngay từ thời cổ xưa dự báo đã được con người sử dụng ngay vào trong đời sống hàng ngày nhưng mang nặng mầu sắc tôn giáo thần bí thể hiện ở các câu nói của các nhà tiên tri, lời nói của các “Thầy” bói toán (những ông “thày” này ở xã hội hiện tại của chúng ta bây giờ không phải là ít). Ngay từ thời cổ Hy lạp người ta đã phân chia lĩnh vực dự báo thành:
- Các hiện tượng tự nhiên: Thời tiết, nhật thực, nguyệt thực
- Các hiện tượng xã hội: sự xuất hiện và kết thúc của các cuộc chiến tranh, sự hưng thịnh hay suy vong của một thể chế trính trị (ở nước mỹ có những hội thảo tưởng chừng như là kỳ dị như hội thảo suy vong của nước Mỹ)
- Các hiện tượng về đời số xã hội như khả năng giầu có, về bệnh tật, sinh tử, về khả năng giầu có của các dòng họ...
Suốt nhiều thế kỷ trước dự báo không được vận dụng một cách khoa học, ít tính tích cực, bởi vì đây là thời kỳ mà lý thuyết tôn giáo không tưởng và triết học duy tâm thống trị trong tư duy nhận thức thế giới. Đến thế kỷ XVI, XVII khi các môn khoa học như toán học, vật lý, thiên văn học đã phát triển, các dự báo có tính khoa học mới dần xuất hiện. Tuy nhiên lúc đầu các dự báo với độ chính xác cao thường được áp dụng trong vật lý cổ điển, hoá học và thường đặt trọng phạm vi không gian và thời gian rất khắt khe. Sau đó xuất hiện nhiều dự báo mà hiện tượng dự báo rất phức tạp chịu sự tác động của nhiều nhân tố: tiến bộ khoa học - kỹ thuật, sự phát triên kinh tế xã hội, chính trị, sự thay đổi về tâm lý và chuẩn mực đạo đức xã hội, đòi hỏi dự báo phai vận dụng các phương pháp thống kê, xác suất (dự báo với mất độ tin cận nào đó chứ không hoàn toàn chính xác).
Ngày nay vai trò của dự báo ngày càng được khẳng định và tăng lên đáng kể trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là quy mô của nền kinh tế ngày càng lớn, cấu trúc của nền kinh tế - xã hội ngày càng phức tạp. Việt tổng hợp các nhân tô ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân, việc vạch ra các luận cứ để xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển, việc lựa chọn các phương án để xem xét khả năng thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ngày càng tăng lên.

Một số mô hình dự báo 

Hiện nay có rất nhiều phương pháp dự báo khác nhau về nguồn thông tin được sử dụng, về cơ chế xây dựng dự báo, về độ tin cậy độ xác thực của dự báo. Tuy nhiên, có thể nếu lên một số mô hình sau để bạn đọc tham khảm:
1. Mô hình kinh tế lượng: Là phương pháp dựa trên lý thuyết kinh tế lượng để lượng hoá các quá trình kinh tế xã hội thông qua phương pháp thống kê. ý tưởng chính của phương pháp là mô tả mối quan hệ giữa các đại lượng kinh tế bằng một phương trình hoặc hệ phương trình đồng thời. Với các số liệu quá khứ, tham số của mô hình này được ước lượng bằng phương pháp thông kê. Sử dụng mô hình đã ước lượng này để dự báo bằng kỹ thuật ngoại suy hoặc mô phỏng.
2. Mô hình I/O: Mô hình I/O là mô hình dựa trên ý tưởng là mối liên hệ liên ngành trong bản đầu vào - đầu ra(Input – Output table) diễn tả mối quan hệ của quá trình sản xuất giữa các yếu tố đầu vào, chi phí trung gian và đầu ra của sản xuất.
3. Mô hình tôi ưu hoá: Điển hình của mô hình này là bài toán quy hoạch tối ưu, bố trí một nguồn lực nhằn tối ưu hoá một mục tiêu nào đó.
4. Mô hình chuỗi thời gian: Phương pháp dự báo này được tiến hành trên cơ sở giả định rằng quy luật đã phát hiện trong quá khứ và hiện tại được duy trì sang tương lai trong phạm vi tâm xa dự báo. Các quy luật này được xác định nhờ phân tích chuỗi thời gian và được sử dụng để suy diễn tương lai.
5. Mô hình nhân tố: Phân tích tương quan giữa các chỉ tiêu(nhân tố) với nhâu và lượng hoá các mối quan hệ này. Việc lượng hoá được thực hiện nhờ phương pháp phân tích hồi quy và dự báo chỉ tiêu kết quả trên cơ sở sự thay đổi của các chỉ tiêu nguyên nhân hay các chỉ tiều giải thích.

--PageBreak--
6. Mô hình cân bằng tổng quát: Lý thuyết về cân bằng tổ quát cho rằng trong nền kinh tế cách tranh hoàn hảo thì cung cầu của thị trường sẽ tự điều chỉnh để đạt trạng thái cân bằng tổng quát. Mô hình này chủ yếu tập trung vào mặt định tính. Sự phát triểu của kỹ thuật toán, tin học và công cụ thông kê... đã cho phép lượng hoá và tính toán trên máy tính.
7. Tình hình công tác dự báo ở Việt Nam: Công tác dự báo đã được triển khai tử những năm đầu của thập kỷ 70. Dự báo được coi là một công cụ phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng chỉ đạo thực hiện kế hoạch của nhà nước. Về mặt tổ chức đã hình thành nhiều cơ quan nghiêu cứu về dự báo: Ban điều khiểu học trực thuộc Thủ tướng Chính phủ thập kỷ 70; Trung tâm Phân tích Hệ thống thuộc viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương; Ban Dự báo và Phân tích Kinh tế vĩ mô - Viện chiến lược Phát triển Thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư; Viện Khoa học Việt Nam thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước sau này là Bộ Khoa học Công nhệ và môi trường nay là Bộ khoa học và Công nghệ.
Về phương pháp và công nghệ dự báo, nói chung ở nước ta đến nay các cơ quan nghiên cứu dự báo đã vận dụng các phương pháp như: Phướng pháp mô hình hoá (gồm các mô hình như : Kinh tế lượng, mô hình chuỗi thời gian, Mô hình I/O....); Phương pháp chuyên gia (dựa trên việc thu thập và xử lý các ý kiến đánh giá của các chuyên gia giỏi có nhiều kiến thức và kinh nghiệm); Phương pháp kết hợp giữa mô hình hoá và lấy ý kiến đánh giá của chuyên gia theo quy trình tiệm cận lặp. Tuy nhiên trong thời gian qua mô hình được sử dụng phổ biến vẫn là mô hình kinh tế lượng vĩ mô.
Hiện nay, Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi, khu vực kinh tế Nhà nước chiếm một vài trò quan trọng trong các thành phần kinh tế. Hoạt động dự báo được thực hiện ở các Bộ, Ban ngành. Với mục tiêu phục vụ công tác dự báo và mô phỏng chính sách, ngoài mô hình kinh tế lượng vĩ mô, một số đơn vị và Viện nghiên cứu của Việt Nam đã xây dựng thêm các mô hình khác như: Mô hình cân bằng tổng quát và mô hình kinh tế tối ưu trọng cung...
Mô hình cân bằng tổng quát được các chuyên gia Nhật Bản kết hợp với chuyên gia Việt Nam xây dựng vào năm 1996 trong khuôn khổ dự án NIPPON. Mục đích của mô hình này là mô phỏng kế hoạch 5 năm 1996-2000, sau đó mô hình được điều chỉnh và cập nhật bởi chuyên gia của Viện chiến lược phát triển phục vụ mô phỏng các kịch bản của kế hoạch 5 năm 2001-2005.
Mô hình cân bằng tổng quát 24 ngành mô phỏng mối quan hệ giữa giảm đói nghèo và tăng trưởng kinh tế của kế hoạch 5 năm 2001-2005 được xây dựng trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu của Việt Nam- Nhật Bản trong năm 2000.
Mô hình cân bằng tổ quát (CGE VNT01) được xây dựng nhằm đánh giá hiệu quả và tác động của tự do hoá thương mại theo những điều kiện để gia nhập AFTA và WTO đối với nền kinh tế Việt Nam.
Mô hình tăng trưởng kinh tế tối ưu trọng cung, mô hình tăng trưởng tối ưu nhiều giai đoạn và nhiều ngành để phân tích tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam được các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam cùng xây dựng từ năm 1996 trong khuôn khổ dự án NIPPON. Mô hình đã được các nhà nghiên cứu thuộc Viện Chiến lược phát triển điều chỉnh và cập nhật dữ liệu mô phỏng tiềm năng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn đến năm 2010. 

(Phạm Văn Khánh & Bùi Tiến Sỹ)