Tăng trưởng cao nhất của Việt Nam là 5,35%

Đây là nhận định của các chuyên gia tại Báo cáo Thường niên kinh tế Việt Nam 2013 do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Đại học Kinh tế (ĐH Quốc gia Hà Nội) công bố ngày 27/5, tại Hà Nội.
Công bố Báo cáo Thường niên kinh tế Việt Nam 2013.Công bố Báo cáo Thường niên kinh tế Việt Nam 2013.

Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội tăng trưởng nhanh

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc kiêm Kinh tế trưởng của VEPR, kinh tế Việt Nam giống như một cỗ xe nặng nề đang chậm chạp đi vào tương lai trên một con đường gập ghềnh. Khi năm 2013 kết thúc cũng là thời điểm đánh dấu một giai đoạn 6 năm sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (2008 - 2013), mà trong quãng thời gian đó nền kinh tế chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 5.8%/năm, so với mức trung bình 7,8%/năm trong giai đoạn 6 năm trước đó (2002 - 2007). Đồng thời, lạm phát bình quân hàng năm trong giai đoạn 6 năm trước đó chỉ là 7,35%, còn giai đoạn hiện nay là 11,5%. Rõ ràng là nền kinh tế Việt Nam đã và đang trải qua những năm tháng mà nhiều cơ hội tăng trưởng nhanh đi liền với cải cách kinh tế đã bị bỏ lỡ.

Bối cảnh ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu sẽ có những tác động đối với nền kinh tế Việt Nam thông qua kênh thương mại, đầu tư và nhóm chi phí đẩy tác động lên lạm phát. Những dự báo ảm đạm của kinh tế thế giới năm 2013 cho thấy Việt Nam không thể trông chờ vào sự bình phục của kinh tế thế giới mà cần phải chủ động hơn trong việc tìm ra con đường của mình trên cơ sở xác định các mục tiêu phát triển phù hợp, các chính sách điều tiết hướng tới sự ổn định, giải quyết được các vấn đề cấp bách trong nội tại nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với nguy cơ trì trệ kéo dài với những đặc thù của một nước sớm rơi vào bẫy thu nhập trung bình, kéo lùi tiến trình cải cách cơ cấu nền kinh tế và ngăn trở tiềm năng tăng trưởng dài hạn của đất nước.

Kết quả là hai kịch bản dự báo được xây dựng cho thấy tăng trưởng của năm 2013 chỉ tương tự như năm 2012, cho thấy nền kinh tế vẫn tiếp tục đi ngang trong thế chờ đợi những điều chỉnh thực sự trong cấu trúc kinh tế. Kịch bản thấp dự báo mức tăng trưởng đạt khoảng 5,04%, trong khi kịch bản cao hơn cũng chỉ đạt mức là 5,35% (tất cả đều tính theo phương pháp tính GDP mới, theo giá cố định năm 2010). Lạm phát của cả năm 2013 được dự báo đạt mức tương đối ổn định, trong vùng dự kiến từ 4,95% đến 6,64%.

Tuy nhiên, TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) dè dặt khi nhận xét về đánh giá viễn cảnh kinh tế Việt Nam năm 2013. Ông cho rằng, tình hình kinh tế trong năm 2013 còn gặp nhiều khó khăn, các giải pháp ngắn hạn có thể giải quyết được tạm thời những vấn đề gặp phải nhưng cần thiết phải có một kế hoạch lâu dài để những vấn đề nan giải như nợ xấu, thị trường bất động sản… được giải quyết một cách triệt để. Còn TS. Võ Trí Thành, Viện phó Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho rằng dự báo trên là "quá an toàn".

Nhiều dư địa chính sách nhờ lạm phát thấp

Trong 5 năm qua, cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế thế giới cùng những khó khăn, bất ổn kinh tế trong nước đã đặt Việt Nam trước những thách thức to lớn và một nhu cầu cải cách mãnh liệt. Nhiều chương trình chính sách đã được đặt ra, đặc biệt là chương trình cải cách tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Nhưng thời gian cứ trôi qua và có nhiều lý do để ngày càng hoài nghi về khả năng đất nước có thể thực hiện được những ý tưởng cải cách cấp bách đã đặt ra.

Cũng tương tư như năm 2012, năm 2013 tiếp tục có thêm dự địa chính sách nhờ lạm phát tương đối thấp, nhưng các vấn đề của nền kinh tế thực vẫn là điều đáng lo ngại nhất. Doanh nghiệp tiếp tục suy yếu, các giải pháp chính sách không đủ mạnh và môi trường truyền dẫn chính sách kém hiệu quả, làm biến dạng mục tiêu mong muốn, đều là những nhân tố cản trở sự phục hồi kinh tế.

Vì thế, trong ngắn hạn, TS Thành cho rằng, cần lựa chọn ưu tiên giữa chính sách phục hồi tăng trưởng, hồi sinh doanh nghiệp và chính sách tiền tệ chặt chẽ, kiểm soát ổn  định vĩ mô. Nhưng dù thế nào, ổn định vĩ mô luôn là tiền đề cho các chính sách căn bản khác. Không được bỏ lỡ, mơ hồ về việc ổn định kinh tế vĩ mô.

Một loạt vấn đề ngắn và trung hạn được đặt ra cho Việt Nam, bao gồm việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống tài chính sau sự ra đời của VAMC, từ đó, tạo dựng thị trường mua bán nợ và cơ chế khơi thông nguồn lực mua nợ từ nhà đầu tư trong nước và quốc tế, giúp hồi sinh khu vực doanh nghiệp. Vấn đề hồi phục thị trường bất động sản với một khuôn mặt mới, để thông qua đó hỗ trợ hệ thống tài chính - tín dụng phục hồi cũng là một nhu cầu cấp bách. Thêm vào đó, những vấn đề dài hạn cần được đặt ra thông qua những bước đi cụ thể ngay từ lúc này, bao gồm việc cải thiện môi trường kinh doanh, khôi phục niềm tin của dân chúng và nhà đầu tư, giảm mệnh lệnh hành chính và can thiệp nhà nước trong hoạt động kinh tế, cải cách quan hệ đất đai và cấu trúc thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp.

“Tóm lại, tái cơ cấu kinh tế đang đang đi trên con đường rất khó khăn, bị tác động từ yếu tố bên trong và bên ngoài. Cá nhân tôi cũng đồng tình với quan điểm điều tiết chính sách phải kết hợp hài hòa giữa giải pháp ngắn hạn và dài hạn từ báo cáo trên” - TS. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia khẳng định.

Cuối cùng, một vấn đề đã được thảo luận rất nhiều là Việt Nam cần nghiêm túc xem xét lại mô hình kinh tế vừa qua và sớm định hướng một mô hình mới. Nếu tiếp tục né tránh nhận thức một cách dứt khoát và rõ ràng về mô hình mới cho phát triển kinh tế, cùng những thể chế hỗ trợ phù hợp, thì các cuộc cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự, và Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội đi tới tương lai bằng con đường bằng phẳng.

(T.Hương)