Xuất nhập khẩu sau một năm về đích sớm - Tạo đà cho mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 16% năm 2005

Tính đến thời điểm hết tháng 11/2004 cả xuất khẩu và nhập khẩu đã về đích sớm  hơn dự kiến với chỉ số kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước lên 52,13 tỷ USD, tăng 27,2 % so với cùng kỳ năm 2003.

Xuất nhập khẩu sau một năm về đích sớm - Tạo đà cho mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 16% năm 2005

Sự tăng trưởng xuất khẩu khá toàn diện, không chỉ đạt được tăng về khối lượng, giá cả hay ở một số ngành ở một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực truyền thống mà còn có sự tăng lên mạnh mẽ của các ngành hàng xuất khẩu mới, thị trường mới và sự mở rộng qui mô của các doanh nghiệp. Chính những điều này đã làm nên sự thành công của xuất khẩu, tạo đà cho xuất khẩu những năm tiếp theo và cũng đặt ra những thách thức mới với mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm nay khoảng 16%.

Xuất khẩu đạt 23,83 tỷ USD, thực hiện được 108,5% kế hoạch năm 2004 và nhập khẩu là 28,4 tỷ USD, thực hiện được107,3% kế hoạch năm. Trong tổng số 18 mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch lớn hơn 100 triệu USD có tới 13 mặt hàng vượt kế hoạch năm kể cả lượng và giá trị mà ấn tượng nhất là sản phẩm gỗ (bằng 173% kế hoạch năm), tiếp theo là than đá (163%), hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện (138%), cà phê (130%). Như vậy, có thể nói trong cả năm 2004 hầu hết các mặt hàng đều đạt và vượt kế hoạch năm.

Bên cạnh những thành công của xuất khẩu năm 2004, trong năm nay chúng ta cũng cần phải hết sức quan tâm đến hiệu quả xuất khẩu. Nhiều mặt hàng có sự gia tăng vượt bậc nhưng hiệu quả thực tế còn rất thấp. Vấn đề quan trọng có tính quyết định là phải có những chính sách đầu tư hợp lý trong sản xuất nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu. Có như vậy mới nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trước ngưỡng cửa gia nhập WTO .

Đối với nhập khẩu, mặc dù kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm 2003 nhưng phần lớn các mặt hàng nhập khẩu chủ lực 11 tháng qua về khối lượng thấp hơn kế hoạch năm 2004, đó chủ yếu do giá nhập khẩu tăng khá cao.

I. XUẤT KHẨU

1. Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trong tháng 11/2004, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất khẩu đạt 728 triệu USD, nâng tổng kim ngạch của khu vực này 11 tháng là 7,85 tỷ USD, chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Mức đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng nhiều vào xuất khẩu và có tốc độ tăng khá cao. Sự tham gia khối doanh nghiệp này đang làm phong phú hơn rất nhiều chủng loại hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu cho xuất khẩu lâu dài cần hết sức quan tâm đến vai trò của thành phần kinh tế này.

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khá khác biệt với cơ cấu hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước. Khối doanh nghiệp này tập trung khai thác những mặt hàng có hàm lượng chế biến, kỹ thuật cao hơn.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với ưu thế về vốn và công nghệ, việc kim ngạch của khối này (không kể dầu thô) chiếm tới 1/3 kim ngạch xuất khẩu của Việt nam là một minh chứng sinh động cho vai trò không thể thiếu của thành phần này trong việc duy trì một tốc độ xuất khẩu tăng trưởng ổn định. Nhưng bên cạnh những mặt tích cực thì khu vực này cũng đang tồn tại nhiều bất cập. Đó là việc nội địa hoá hàng xuất khẩu của khu vực này chưa cao và chưa thực sự tương xứng với tiềm năng. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chủ yếu gia công lắp ráp giản đơn, sử dụng nguồn nhân lực dồi dào và giá nhân công thấp ở Việt Nam. Việc thu hút các doanh nghiệp này đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nguyên liệu và những sản phẩm bổ trợ cho làm hàng xuất khẩu là một điều hết sức cần thiết trong tương lai.

Trong 11 tháng qua, có 13 mặt hàng xuất khẩu của khối này đạt trên 100 triệu USD, trong đó có hai mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD là dệt may (1,6 tỷ USD) và giầy dép (1,4 tỷ USD), tiếp đến là hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện: (953 triệu USD, sản phẩm gỗ (471 triệu USD), dây điện và cáp điện (339 triệu USD), hải sản (212 triệu USD), xe đạp và phụ tùng (209 triệu USD).

2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam 11 tháng qua cho thấy tỷ trọng hàng công nghiệp đang có tốc độ tăng xuất khẩu khá nhanh, nhiều mặt hàng đang khẳng định được vai trò đóng góp vào xuất khẩu trong khoảng thời gian rất ngắn, như sản phẩm gỗ từ vị trí thứ 9 năm 2001 về kim ngạch đến 11 tháng năm nay đã vươn lên vị trí thứ 5 về xuất khẩu của nước ta.

- Dầu thô: xuất khẩu trong tháng đạt xấp xỉ 1,69 triệu tấn, tăng 16% so với tháng trước, nâng khối lượng xuất khẩu 11 tháng lên 17,8 triệu tấn, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2003, đạt gần 5,2 tỷ USD, chiếm 21,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Đây là năm có khối lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu dầu thô cao nhất từ trước tới nay. Việc kim ngạch xuất khẩu dầu thô chiếm tới hơn 1/5 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2004 và mức giá bình quân 290 USD/tấn cho thấy sự tăng trưởng xuất khẩu vẫn còn bị ảnh hưởng rất nhiều vào biến động của giá dầu thế giới.

- Than đá: xuất khẩu trong tháng đạt 842,8 nghìn tấn, nâng khối lượng than xuất khẩu của Việt Nam lên con số 9,8 triệu tấn, tăng 51,7 % so với cùng kỳ năm 2003. Thị trường tiêu thụ than của Việt Nam lớn nhất là Trung Quốc: 4,96 triệu tấn, Nhật Bản: 2,47 triệu tấn, Thái Lan: 568 nghìn tấn, Hàn Quốc: 415 nghìn tấn.

Đây là mặt hàng Việt Nam có lợi thế trong xuất khẩu do vị trí địa lý gần các thị trường tiêu thụ, mặt khác do nguồn nhiên liệu khác như xăng dầu tăng giá cao nên nhiều nước quay lại sử dụng nguồn nhiên liệu truyền thống như than đá. Thực tế, mức giá than xuất khẩu hiện tại vẫn chưa cao nhưng khối lượng xuất khẩu đang tăng lên rất nhiều. Vì vậy cần có những chiến lược phát triển bền vững nguồn tài nguyên của đất nước để mang lại hiệu quả kinh tế cao.

- Hàng dệt may: kim ngạch trong tháng đạt 299 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng 10 và đến hết tháng 11 đạt xấp xỉ 4 tỷ USD, chiếm 16,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, vượt 5% kế hoạch năm.

Việc EU bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam trong năm tới là một cơ hội lớn cho ngành công nghiệp này khi Việt Nam chưa là thành viên của WTO và xuất khẩu vào Mỹ đang chịu hạn ngạch. Tuy vậy, trên thực tế, Việt nam xuất khẩu sang thị trường này 11 tháng qua mới đạt con số 676 triệu USD (tính cả cho EU mở rộng) nên cả năm ước tính chỉ bằng khoảng 3/4 mục tiêu xuất khẩu vào thị trường này trong năm.

Ba thị trường trọng tâm của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam chiếm tỷ trọng gần 94% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may. Đó là Mỹ (chiếm 56,6%), các nước Châu á khác (chiếm 21,4%) và EU (chiếm 15,7%). Xuất khẩu vào hai thị trường Mỹ và EU có tốc độ tăng trưởng khá cao đã và đang được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, nhất là từ sau khi Hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết. Hơn nữa việc EU bãi bỏ hạn ngạch dệt may với Việt Nam bắt đầu từ năm 2005 đang mở ra một triển vọng mới cho ngành công nghiệp dệt may nhưng đồng thời cũng gặp thách thức lớn trong cạnh tranh với Trung Quốc, ấn Độ...khi WTO bãi bỏ hạn ngạch dệt may với các nước thành viên.

- Giày dép: trong tháng xuất khẩu được 212 triệu USD, tăng 13,4 % so với tháng trước, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đến hết tháng 11 lên 2,37 tỷ USD, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm 2003 và thực hiện được 95% kế hoạch năm.

Đối với mặt hàng này, cơ cấu thị trường xuất khẩu nghiêng mạnh về EU (chiếm 66%), cạnh đó thị trường Mỹ mặc dù kim ngạch thấp hơn EU và chỉ chiếm 15,5% tổng kim ngạch giầy dép nhưng đang có tốc độ tăng khá tốt và trở thành nước lớn thứ hai về nhập khẩu giầy dép của Việt Nam.

- Hải sản: xuất khẩu trong tháng đạt 220 triệu USD, giảm 9,7% so với tháng trước. Tổng kim ngạch 11 tháng đạt 2,17 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2003.

Trong 11 tháng qua, xuất khẩu hải sản sang Nhật đạt 698 triệu USD, Mỹ: 530 triệu USD, Hàn Quốc: 129 triệu USD, Đài Loan: 98 triệu USD, Hồng Kông: 78 triệu USD.

- Gạo trong tháng đạt 306 nghìn tấn, tăng 38,3% so với tháng trước và tổng khối lượng gạo xuất khẩu đến nay là 3,85 triệu tấn, tăng 2,5 % so với cùng kỳ năm 2003.

Khu vực Châu á chiếm hơn # khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, trong đó Philippin là nước nhập khẩu gạo lớn nhất với 716 nghìn tấn, tiếp đến là Irắc; 347 nghìn tấn, Malaysia với 455 nghìn tấn, Singapore: 113 nghìn tấn.

Khu vực Châu Phi chiếm 27,5% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong đó, Senegal dẫn đầu với 267 nghìn tấn, tiếp theo là Bờ Biển ngà: 146 nghìn tấn, Ghana: 117 nghìn tấn, Angola: 98 nghìn tấn, Tanzania: 91 nghìn tấn, Nam Phi: 80 nghìn tấn.

- Cà phê xuất khẩu trong tháng 11/2004 đạt 38 nghìn tấn, giảm 4,8% so với lượng xuất khẩu trong tháng trước. Như vậy, cho đến hết tháng 11, tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này là 845,6 nghìn tấn, tăng 38,6% so với cùng kỳ năm 2003.

Thị trường EU nhập khẩu 483 nghìn tấn cà phê của Việt Nam, trong đó Đức là 152 nghìn tấn, Anh: 90 nghìn tấn... Thị trường Mỹ là 112 nghìn tấn.

- Cao su trong tháng 11 xuất khẩu được 51,7 nghìn tấn, giảm gần 13% so với tháng 10. Như vậy, trong 11 tháng năm 2004, tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam là 439 nghìn tấn và giá trị đạt được là: 513 triệu USD.

- Sản phẩm gỗ: xuất khẩu trong tháng đạt 97 triệu USD, giảm nhẹ so với tháng 10, nâng kim ngạch 11 tháng lên 954 triệu USD, tăng 89% so với cùng kỳ năm 2003. Như vậy, đây là mặt hàng xuất khẩu gây ấn tượng nhất trong năm và con số 1 tỷ USD cho xuất khẩu mặt hàng này năm 2004 là chắc chắn đạt được.

- Hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện.

Đây là nhóm hàng đạt được tốc độ tăng trưởng cũng khá cao so với cùng kỳ năm 2003 (56%) với kim ngạch 967 triệu USD. Trong tháng 11 xuất khẩu đạt 108 triệu USD và cùng với sản phẩm gỗ mặt hàng này chắc chắn sẽ đạt trên 1 tỷ USD cho năm 2004

II. NHẬP KHẨU

1. Nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Song song với việc tăng xuất khẩu, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang tăng lên. Đến hết tháng 11 nhập khẩu là 9,9 tỷ USD, chiếm 34,8 % tổng kim ngạch nhập khẩu. Hầu hết hàng hoá nhập khẩu của khối doanh nghiệp này là nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu và máy móc thiết bị đầu tư.

2. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong tháng nhập khẩu là 409 triệu USD, tăng nhẹ so với tháng trước. Tổng kim ngạch 11 tháng đạt 4,67 tỷ USD, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm 2003 và chiếm 16,4% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Nhập khẩu nhóm hàng hoá này vẫn chủ yếu từ Châu Á (khoảng 61%) với kim ngạch 2,85 tỷ USD trong 11 tháng. Khu vực Châu Âu là 1,22 tỷ USD và Châu Mỹ là 556 triệu USD (kể cả máy bay nhập khẩu)

- Xăng dầu: trong tháng nhập khẩu 704 nghìn tấn, nâng khối lượng xăng dầu nhập khẩu đến hết tháng 11 là hơn 9,9 triệu tấn (3,2 tỷ USD) tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2003

- Phân bón: trong tháng 11/2004, số lượng phân bón các loại nhập về là 413 nghìn tấn, giảm 18% so với tháng trước. Nhóm mặt hàng này nhập khẩu 11 tháng qua là 3,64 triệu tấn, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2003.

- Sắt thép: nhập khẩu mặt hàng này trong tháng 513 nghìn tấn, tăng 28,4% so với tháng 10. Tính từ đầu năm đến hết tháng 11, nhập khẩu sắt thép các loại đạt 4,57 triệu tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước.

- Chất dẻo nguyên liệu: trong tháng nhập khẩu 115 nghìn tấn, tăng 27,2% so với tháng trước. Tổng khối lượng mặt hàng này nhập khẩu đến hết tháng 11 là: 1,023 triệu tấn, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2003.

- Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày và vải các loại: trong tháng nhập khẩu 358 triệu USD, nâng tổng kim ngạch nhóm hàng hoá này lên 3,75 tỷ USD trong 11 tháng.

- Ô tô nguyên chiếc và linh kiện: Ô tô nguyên chiếc nhập khẩu trong tháng này là 2,1 nghìn chiếc, tăng 23,7% so với tháng 10. Trong 11 tháng qua, số lượng xe ô tô nguyên chiếc nhập về là 19,88 nghìn chiếc, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2003.

Tháng 11 năm 2004, lượng ô tô ở dạng linh kiện nhập khẩu gần 6,9 nghìn bộ, tăng 49,7% so với tháng 10. Như vậy, số lượng linh kiện nhập từ đầu năm đến hết tháng 11 là 42,5 nghìn bộ, giảm 2,1% so với lượng nhập khẩu của cùng kỳ năm 2003.