Chính sách ưu đãi đầu tư đối với làng nghề

Làng nghề hiện nay thường bao gồm một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm trong đó có những sản phẩm truyền thống hoặc theo đặc trưng riêng của mỗi làng nghề.

Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Nhà nước hiện đã có nhiều chính sách về khuyến nông, khuyến công nhằm khuyến khích, phát triển các làng nghề như Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 của Chính phủvề việc khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn; Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21/5/2012 của Chính phủ về khuyến công…

Đối với tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, Hợp tác xã (gọi chung là doanh nghiệp) thành lập mới từ dự án đầu tư tại các làng nghề thì pháp luật về thuế hiện hành đã có quy định về chính sách ưu đãi thuế như: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản của tổ chức thành lập theo Luật Hợp tác xã; thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.

Trường hợp làng nghề, thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn được áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) tương ứng với địa bàn hoạt động (như thuế suất thuế TNDN 10% trong tối đa 15 năm hoặc 20% trong tối đa 10 năm, được miễn thuế từ 02 đến 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% số thuế phải nộp từ 04 đến 09 năm tiếp theo).

Đối với hợp tác xã làng nghề dịch vụ nông nghiệp hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, sau khi hết thời hạn áp dụng mức thuế suất ưu đãi 10% thì chuyển sang áp dụng mức thuế suất ưu đãi 20%.

(Nhã Tường)