Thu hút ngành công nghệ cao vào khu chế xuất

Trong năm 2014, Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu thu hút 550 triệu USD (tăng 10% so với năm 2013) vào các khu công nghiệp - khu chế xuất. Thành phố tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghệ cao, tập trung vào 4 lĩnh vực trọng điểm là cơ khí, điện tử - tin học, hóa chất và chế biến lương thực - thực phẩm.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Trước kỳ họp thứ bảy Quốc hội khoá XIII, cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ có chính sách cụ thể hỗ trợ ưu đãi về thuế, tiền thuê đất để thu hút ngành công nghệ cao vào khu chế xuất - khu công nghiệp và khuyến khích các doanh nghiệp hiện hữu chuyển đổi công nghệ từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu phát triển hoặc sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Trước kiến nghị đó, Bộ Tài chính cho rằng, theo quy định của pháp luật hiện hành, lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển, sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao và địa bàn khu chế xuất, khu công nghiệp là lĩnh vực, địa bàn được ưu đãi đầu tư. Để thực hiện mục tiêu khuyến khích, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực nêu trên, pháp luật về thuế, về tiền thuê đất đã có quy định cụ thể về chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh vào ngành công nghệ cao, về thay thế, đổi mới công nghệ, nghiên cứu, phát triển, hoặc sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao và doanh nghiệp nói chung đầu tư, hoạt động vào khu chế xuất, khu công nghiệp.

Về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):

Theo quy định của Luật thuế TNDN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN; Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN thì:

Miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thu nhập của doanh nghiệp từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm và từ sản xuất sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam được miễn thuế tối đa 01 năm kể từ ngày bắt đầu có doanh thu từ bán sản phẩm theo hợp đồng nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, sản xuất thử nghiệm hoặc sản xuất theo công nghệ mới.

Áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế tối đa 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong tối đa 09 năm tiếp theo đối với: Thu nhập của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Thu nhập của doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao kể cả khu công nghệ thông tin tập trung được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ sinh học.

Áp dụng thuế suất 20% trong thời gian 15 năm, miễn thuế 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với: Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới: sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản; phát triển ngành nghề truyền thống. Và kể từ ngày 01/01/2016, các doanh nghiệp này chuyển sang áp dụng thuế suất 17%.

Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp (trừ khu công nghiệp thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi) được miễn thuế 02 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo;

Doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn được giảm 50% số thuế TNDN tính trên phần thu nhập từ chuyển giao công nghệ.

Doanh nghiệp được trích tối đa 10% trên thu nhập tính thuế hàng năm trước khi tính thuế TNDN để thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để sử dụng cho đầu tư khoa học, công nghệ tại Việt Nam.

Về thuế giá trị gia tăng (GTGT):

Theo quy định của Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT; Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT thì:

Máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; Hoạt động chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ thì phần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyển nhượng, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Hàng hoá, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất; giữa các doanh nghiệp chế xuất và giữa các khu chế xuất với nhau, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp trong nước cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế GTGT là 0%.

Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:

Theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì:

Hàng hóa từ khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu chế xuất và chỉ sử dụng trong khu chế xuất; hàng hóa trao đổi, mua bán giữa các khu chế xuất với nhau thuộc đối tượng không chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, bao gồm: máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học và các nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ.

Doanh nghiệp có dự án đầu tư vào lĩnh vực được ưu đãi về thuế nhập khẩu hoặc địa bàn được ưu đãi về thuế nhập khẩu, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định, bao gồm: Thiết bị, máy móc;Phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ trong nước chưa sản xuất được; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ôtô từ 24 chỗ ngồi trở lên và phương tiện thủy; Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng quy định tại điểm a và điểm b khoản này; Nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc quy định tại điểm a khoản này; Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được.

Nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của các dự án đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (trừ các dự án sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, điều hòa, máy sưởi điện, tủ lạnh, máy giặt, quạt điện, máy rửa bát đĩa, đầu đĩa, dàn âm thanh, bàn là điện, ấm đun nước, máy sấy khô tóc, làm khô tay và những mặt hàng khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ) được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 05 (năm) năm, kể từ ngày bắt đầu sản xuất.

Về các khoản thu từ sử dụng đất:

Căn cứ Nghị định số 198/4004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày và Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất; Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 và Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày của Chính phủ về tiền thuê đất, thuê mặt nước thì:

Miễn tiền sử dụng đất đối với dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh (xã hội hoá) thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao...

Giảm 50% tiền sử dụng đất đối với các trường hợp:Dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

Giảm 30% tiền sử dụng đất đối với các trường hợp: Dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư không thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc không thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

Giảm 20% tiền sử dụng đất đối với các trường hợp: Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư không thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc không thuộc các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn;

Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án sử dụng đất công trình công cộng có mục đích kinh doanh (xã hội hoá) thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao, khoa học - công nghệ.

Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày xây dựng hoàn thành đưa dự án vào hoạt động, cụ thể như sau:

+ Ba (3) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư; tại cơ sở sản xuất kinh doanh mới của tổ chức kinh tế thực hiện di dời theo quy hoạch, di dời do ô nhiễm môi trường.

+ Bảy (7) năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư.

+ Mười một (11) năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

+ Mười lăm (15) năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Cùng với chính sách ưu đãi về thuế, về các khoản thu sử dụng đất nêu trên, Chính phủ cũng đã giao các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan liên quan trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào ngành công nghệ cao đầu tư, đầu tư hoạt động vào khu chế xuất, khu công nghiệp như theo quy định tại Luật Đầu tư, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP nêu trên và các văn bản liên quan.

(Nam Anh)