Thuế chuyển nhượng chứng khoán hay phần vốn doanh nghiệp - thực tiễn và quy định pháp luật

Trong số 114 xuất bản tháng 12/2012, tạp chí Tài chính điện tử đã giới thiệu với bạn đọc về chính sách thuế đối với các hoạt động trên thị trường chứng khoán (TTCK). Trong đó đã làm rõ nghĩa vụ thuế của các đối tác tham gia thị trường như: Tổ chức phát hành (công ty có chứng khoán được mua/bán trên TTCK), các nhà đầu tư là những tổ chức kinh tế và nghĩa vụ thuế của các nhà đầu tư cá nhân đối với hàng hoá là chứng khoán tham gia giao dịch trên thị trường.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Để giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp (DN) thực hiện đúng nghĩa vụ kê khai, khấu trừ thuế, bài viết này đề cập đến nghĩa vụ thuế của cá nhân đối với các giao dịch chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng cổ phần đang diễn ra tại DN là các công ty cổ phần nhưng chưa đủ điều kiện đăng ký giao dịch trên các sàn chứng khoán.

Quy định chuyển nhượng vốn

Luật Doanh nghiệp (năm 2005) quy định, tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đều có quyền bỏ vốn và/hoặc tài sản hợp pháp để lập ra doanh nghiệp (DN), tiến hành các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Đồng thời Luật cũng quy định quyền được chuyển nhượng phần vốn tổ chức, cá nhân đang đầu tư vào một DN khác, đó là: Tại các điều 41 đến 45 quy định việc chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 2 thành viên trở lên; Điều 64, và 66 quy định việc chuyển nhượng vốn và hạn chế quyền rút vốn của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên; Các điều 77, 79 quy định về việc chuyển nhượng cổ phần (vốn) của cổ đông tại công ty cổ phần (CTCP). Đồng thời, Luật có các điều 81 quy định về việc hạn chế quyền chuyển nhượng của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và điều 84 quy định về thời hạn bị cấm thực hiện giao dịch chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông sáng lập CTCP. Điều 140 quy định quyền chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh. Các quy định về thuế liên quan đến hoạt động của DN và nghĩa vụ thuế của những người sở hữu, sáng lập và người có liên quan,...  thì Luật DN 2005 chỉ có quy định mang tính viện dẫn theo quy định của pháp luật thuế có hiệu lực tại thời điểm phát sinh các giao dịch kinh tế. 

Đối với nghĩa vụ thuế của những tổ chức hay pháp nhân Việt Nam với tư cách là cổ đông hay những người sở hữu cổ phần trong CTCP, hoặc là người có phần vốn góp trong công ty TNHH. Điều đang gây nhiều tranh cãi và hiện nay tồn tại nhiều vướng mắc cần được tháo gỡ là nghĩa vụ thuế của các cá nhân có giao dịch chuyển nhượng. Bởi vì, pháp luật thuế của nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện dần, trong khi những hoạt động chuyển nhượng cổ phần, phần vốn hay chứng khoán đã phát sinh rất phong phú trong thực tiễn cuộc sống những năm qua.

Chuyển nhượng vốn hay chuyển nhượng chứng khoán?

Vốn - theo cách nói đời thường (hoặc phần vốn trong DN) và chứng khoán là hai thuật ngữ kinh tế mang tính độc lập tương đối nhưng có quan hệ rất mật thiết, và trong nhiều trường hợp chúng có sự giao thoa, trùng lặp trong phạm vi loại hình CTCP.

Các CTCP được quyền huy động vốn, tăng vốn điều lệ dưới hình thức phát hành thêm cổ phần, chào bán cổ phiếu theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, việc phát hành cổ phần, chào bán cổ phiếu ra công chúng thì không áp dụng đối với tất cả DN có tên gọi và hoạt động theo mô hình là CTCP, vì hoạt động này thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán.

Theo quy định của Luật Chứng khoán (2006) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (2010) thì chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư và các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.

Rõ ràng là, với các quy định được phân tích và trích dẫn nêu trên thì thuật ngữ “chứng khoán” có phạm vi rộng hơn thuật ngữ “vốn”, hoặc “phần vốn trong doanh nghiệp” và chỉ trong trường hợp CTCP đủ điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng (công ty đại chúng) thì mới có sự đồng nhất giữa phần vốn, cổ phần và trị giá cổ phiếu là chứng khoán.

Hệ quả tiếp theo là những người sở hữu cổ phiếu của CTCP khi muốn chuyển nhượng cần phải tham gia vào hoạt động của thị trường chứng khoán. Việc cổ đông chuyển nhượng một mã cổ phiếu của một công ty nào đó mà họ đang nắm giữ đương nhiên là chuyển nhượng chứng khoán. Ngược lại, trong các CTCP còn lại – tức là các DN không được chấp nhận đủ điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng (công ty không đại chúng) thì việc phát hành thêm cổ phần, kể cả trường hợp phát hành cổ phần để chào bán cho các thành viên mới, cổ đông mới thì cổ phiếu của những công ty này không thể là chứng khoán.

Chính vì vậy, những cổ đông đang sở hữu cổ phần của các công ty chưa phải là công ty đại chúng khi chuyển nhượng cổ phiếu của mình thì được làm thủ tục tại công ty do họ không được tham gia thị trường chứng khoán. Hoạt động chuyển nhượng cổ phần này, theo quy định của pháp luật hiện hành, sẽ được hiểu là chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng phần vốn trong DN mà không được coi là chuyển nhượng chứng khoán.

Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán

Như đã đề cập ở phần trên, hệ thống chính sách thuế của chúng ta đang trong quá trình được xây dựng, hoàn thiện dần để phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, với cùng một hoạt động, cùng một hành vi, sẽ không có một quy định chính sách thuế nào được áp dụng cứng nhắc theo mọi khoảng thời gian.

Trái lại, tại từng thời điểm phát sinh phải tuân thủ các văn bản pháp luật về thuế có hiệu lực tại thời điểm đó. Trước năm 2009, đối với cá nhân có thu nhập còn thiếu vắng sự phân biệt rạch ròi giữa nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hay thuế  thu nhập cá nhân (TNCN). Bởi vì khi đó chúng ta mới có Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đánh vào số ít cá nhân có thu nhập cao về tiền lương, tiền công; cá nhân có thu nhập không thường xuyên về trúng thưởng, về quà biếu, quà tặng.

Trong khi đó, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh thì thực hiện nghĩa vụ thuế theo Luật Thuế TNDN (trước 1999 là thuế lợi tức). Trong rất nhiều trường hợp, cá nhân bỏ vốn vào doanh nghiệp với tư cách cho dù là thành viên góp vốn hay thành viên hợp danh (trong mô hình công ty hợp danh), thành viên công ty TNHH, cổ đông của CTCP, có tham gia điều hành hay không điều hành... cũng được xem như là có hoạt động kinh doanh.

Mãi đến gần đây, khi Luật Doanh nghiệp (năm 2005), Luật Chứng khoán (năm 2006) và Luật Thuế TNCN (năm 2007), được ban hành và áp dụng thống nhất thì các phạm trù “kinh doanh” hay không kinh doanh, “nhà đầu tư” hay cá nhân “tiến hành hoạt động kinh doanh” mới được phân định khá rõ nét cho mục đích thuế.

Theo quy định của Luật thuế TNCN thì cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán. Tuy nhiên nghĩa vụ thuế có sự khác nhau giữa chuyển nhượng vốn với chuyển nhượng chứng khoán, giữa cá nhân cư trú và không cư trú.

Đối với chuyển nhượng vốn, cá nhân cư trú chịu mức thuế là 20% trên thực lãi (chênh lệch giã giá bán và giá vốn của phần vốn được chuyển nhượng sau khi trừ đi các chi phí có liên quan đến việc chuyển nhượng). Trong khi đó, cá nhân không cư trú sẽ nộp thuế 0,1% tổng trị giá bán của phần vốn được chuyển nhượng, không phân biệt là việc chuyển nhượng vốn đó có lãi hay bị lỗ.

Đối với chuyển nhượng chứng khoán thì cá nhân cư trú được quyền lựa chọn nộp thuế 20% trên thực lãi hoặc nộp 0,1% tính trên tổng trị giá bán chứng khoán nhưng việc chọn nộp 20% thực lãi phải thực hiện đăng ký với công ty chứng khoán và cơ quan thuế trước thời điểm 31/12 năm trước (đăng ký cho năm sau).

Quy định về việc bỏ thủ tục đăng ký trước được áp dụng từ ngày 01/7/2013 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN nhưng hiện nay chưa có văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Cá nhân không cư trú nộp thuế đối với chuyển nhượng chứng khoán theo cách duy nhất là nộp theo mức thuế suất 0,1% tính trên tổng trị giá chuyển nhượng. Trong mọi trường hợp chuyển nhượng vốn hay chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân không cư trú, việc khấu trừ thuế tại nguồn (theo tỷ lệ 0,1% nêu trên) là quy định bắt buộc đối với tất cả các tổ chức chi trả thu nhập.

Những vấn đề còn tồn tại khá lớn trong kiểm tra, thanh tra, xử lý quyết toán thuế của DN là vấn đề thuế đối với giao dịch chuyển nhượng vốn trong doanh nghiệp.

Cần lưu ý phân định theo trình tự thời gian như sau: Thứ nhất, đối với những giao dịch chuyển nhượng vốn của cá nhân ở các năm 2007 và năm 2008 đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế 28% theo quy định tại phần D, Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính.

Thứ hai, đối với cá nhân nước ngoài là người góp vốn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thực hiện chuyển nhượng vốn phát sinh từ năm 2008 trở về trước thì thực hiện nghĩa vụ nộp thuế TNDN theo mức thuế suất quy định tại Giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư.

Thứ ba, từ năm 2009 trở đi, các cá nhân (không phân biệt quốc tịch, thời hạn cư trú, địa điểm cư trú…) nếu có thu nhập phát sinh từ việc chuyển nhượng vốn, phần vốn tại doanh nghiệp thì thực hiện nộp thuế TNCN theo quy định của Luật Thuế TNCN (năm 2007).

Thứ tư, đối với cá nhân không cư trú, đặc biệt là những cá nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam thì doanh nghiệp, nơi cá nhân có phần vốn đượcn chuyển nhượng phải thực hiện nghĩa vụ tính thuế, khấu trừ thuế (giữ lại tiền thuế) và trừ vào số tiền chuyển thanh toán cho cá nhân. Trong trường hợp DN đã “trót quên” việc khấu trừ thuế thì nay vui lòng phải nộp thay về hành vi “trót quên” đó. Với những trường hợp này, theo quy định của Luật Quản lý thuế (năm 2007) thì có thể còn bị xử phạt về hành vi trốn thuế nếu như việc phát hiện sai sót đó do cơ quan thanh tra, kiểm tra thuế phát hiện ra.

Thứ năm, việc áp dụng mức thuế 20% tính trên thực lãi thường cao hơn nhiều lần con số 0,1% tính trên tổng trị giá chuyển nhượng đối với những giao dịch chuyển nhượng từ năm 2009 trở về trước bởi trong giai đoạn này kinh tế đang phát triển nóng, sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán kéo theo vự tăng trị giá chuyển nhượng trong các công ty cổ phần. Tình trạng “nhầm lẫn” trong kê khai thuế đã và đang diễn ra tại nhiều địa phương (nếu như không muốn nói thẳng ra là đã có những nhà tư vấn làm dịch vụ “cò mồi” cho DN) khi tính thuế theo mức 0,1% thay vì phải khai thuế 20% tính trên thực lãi (chênh lệch giá bán - giá mua và chi phí).

Thứ sáu, việc xử lý thuế trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế tại DN đối với việc khấu trừ thuế của cá nhân chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán cần thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tài chính tại Văn bản số 12501/BTC-CST ngày 20/9/2010, cụ thể là:

Việc phân biệt giữa chuyển nhượng chứng khoán và chuyển nhượng vốn đối với chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần: Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng cổ phần trong các công ty đại chúng theo quy định của Luật Chứng khoán là chuyển nhượng chứng khoán, áp dụng quy định về thuế đối với chuyển nhượng chứng khoán; Tổ chức, cá nhân chuyển nhượng cổ phần trong các công ty cổ phần không thuộc trường hợp nêu trên áp dụng quy định về đối với hoạt động chuyển nhượng vốn. Việc xác định công ty cổ phần là công ty đại chúng căn cứ vào Điều 25, 26 Luật Chứng khoán.

Chính sách thuế đối với thu nhập của cá nhân từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán: Đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ chuyển nhượng vốn thì áp dụng thuế suất là 20% trên thu nhập tính thuế của mỗi lần chuyển nhượng (bằng giá bán trừ giá mua và các chi phí liên quan); thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán áp dụng thuế suất là 20% trên thu nhập tính thuế của cả năm hoặc áp dụng thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

Việc áp dụng thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế cả năm phải đáp ứng điều kiện quy định tại tiết a điểm 2.2.2 mục II Phần B Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNCN và cá nhân chuyển nhượng vẫn phải tạm nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần, cuối năm cá nhân thực hiện quyết toán thuế; Đối với cá nhân không cư trú: thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán áp dụng thuế suất thuế TNCN 0,1% trên tổng số tiền mà cá nhân không cư trú nhận được từ việc chuyển nhượng phần vốn, chuyển nhượng chứng khoán tại tổ chức, cá nhân Việt Nam.

Cách thức xử lý: Các trường hợp chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần đã xác định nghĩa vụ thuế theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm phát sinh và thực hiện nộp thuế hoặc khấu trừ thuế tại nguồn (nếu có) trước ngày công văn này ban hành thì không điều chỉnh lại.

Hy vọng rằng, với những nội dung trao đổi nêu trên, các bạn đọc dù công tác tại các công ty cổ phần hay những người đã và đang làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại doanh nghiệp có thể tìm ra được những kết quả và lời giải xác đáng cho các tình huống thực tế xảy ra, để hạn chế tối đa các thiệt hại không đáng có.

(Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia cao cấp, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính)