Trốn thuế thông qua giá chuyển nhượng: Nhiều thủ đoạn tinh vi đã được nhận diện

Được biết, Ban Cải cách và hiện đại hóa - Tổng cục Thuế đang chủ trì chỉ đạo các cục Thuế trong cả nước thực hiện các cuộc thanh tra về giá chuyển nhượng. Để kịp thời cung cấp thông tin cho đọc giả rõ hơn về thực trạng quản lý thuế đối với hoạt động giá chuyển nhượng cùng những giải pháp ngành thuế hướng đến trong quản lý giá chuyển nhượng, Phóng viên đã phỏng vấn Phó trưởng ban Cải cách và hiện đại hóa Tổng cục Thuế, Vụ trưởng Nguyễn Quang Tiến.

Ảnh minh hoạ - nguồn Internet.Ảnh minh hoạ - nguồn Internet.

PV: Ban Cải cách và hiện đại hóa đang chủ trì thực hiện các cuộc thanh tra giá chuyển nhượng trong cả nước. Vậy ông có thể cho biết một số kết quả bước đầu?

Ông Nguyễn Quang Tiến: Trước hết phải khẳng định rằng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế với sự khác biệt về thuế suất và chế độ ưu đãi thuế giữa các quốc gia thì vấn đề chuyển giá, tránh thuế là tất yếu xảy ra đối với phần lớn công ty đa quốc gia. Chuyển giá không chỉ xảy ra tại Việt Nam mà còn xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả các nước đã phát triển. Để hạn chế tình trạng lợi dụng chuyển giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế, Bộ Tài chính đã xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ theo một Chương trình hành động cụ thể thống nhất trong toàn ngành từ năm 2012- 2015. Kết quả thực hiện các giải pháp trên đã từng bước kiểm soát được hoạt động chuyển giá cụ thể là đến nay, ngành thuế đã quản lý được 3.188 DN có giao dịch liên kết thực hiện kê khai thông tin. Hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ cho  công tác thanh tra giá chuyển nhượng đã từng bước xây dựng, đặc biệt đối với các ngành nghề có rủi ro cao như sản xuất sợi, dệt vải, may mặc, giày, dép, đồ uống... Công tác thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng đã đạt được những kết quả khá tích cực. Trong 09 tháng đầu năm 2013, toàn ngành thuế đã thực hiện thanh tra giá chuyển nhượng được 1.223 DN có dấu hiệu chuyển giá; truy thu, phạt, hoàn thuế 481 tỷ đồng, giảm lỗ 1.697 tỷ đồng và giảm khấu trừ thuế GTGT 41,8 tỷ đồng. Qua thanh tra, bước đầu đã điều chỉnh giảm toàn bộ số lỗ phát sinh, số lỗ luỹ kế từ các kỳ trước chuyển sang và tăng thu nhập chịu thuế TNDN. Kết quả này cũng đã tác động không nhỏ đến tính tuân thủ của nhiều DN trong việc chấp hành các quy định pháp luật về thuế: một số DN đã nhiều năm kê khai lỗ thì nay đã kê khai có lãi, mặc dù điều kiện kinh doanh trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay khó khăn hơn nhiều so với những năm trước đây.  

PV: Qua thực tế thanh tra, kiểm tra, ông có thể cho biết rõ hơn về những thủ đoạn giảm nghĩa vụ thuế của DN thông qua giá chuyển nhượng?

Ông Nguyễn Quang Tiến: Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng, cơ quan thuế đã nhận diện một số dạng chuyển giá điển hình đó là: chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản hữu hình giữa các bên liên kết. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) đầu tư vào Việt Nam thông qua việc góp vốn bằng dây chuyền máy móc, thiết bị, nguyên liệu đặc thù được định giá cao hơn nhiều so với giá trị thực tế. Việc nâng khống giá trị tài sản góp vốn sẽ đem đến một số lợi ích kinh tế cho NĐTNN như có thể chuyển một phần lợi ích kinh tế ngược trở lại thông qua việc trích khấu khao tài sản cố định, phân chia lợi nhuận trên tỷ lệ vốn góp, gây thất thu thuế TNDN và thiệt hại cho bên liên doanh Việt Nam. Việc nâng tỷ trọng vốn góp cao hơn thực tế còn giúp NĐTNN nắm quyền kiểm soát, điều hành liên doanh và thực hiện chuyển giá gây thua lỗ triền miên khiến DN Việt Nam không còn đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động SXKD và phải bán lại phần vốn góp cho NĐTNN.

Chuyển giá thông qua chuyển giao tài sản vô hình, thường diễn ra trong trường hợp công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ SXKD cho bên liên kết tại Việt Nam và thu tiền bản quyền. Việc định giá đối với loại tài sản vô hình mang tính đặc thù này thường rất khó khăn do đó, DN liên kết tại nước ngoài thường tính và thu phí bản quyền rất cao đối với bên liên kết tại Việt Nam, khiến cho chi phí đầu vào bị đẩy lên cao, kết quả SXKD thua lỗ và Chính phủ Việt Nam bị mất quyền đánh thuế TNDN.

Chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ trong nội bộ tập đoàn: Dịch vụ phát sinh trong nội bộ tập đoàn rất đa dạng và mang tính đặc thù với giá trị lớn. Cơ quan quản lý nhà nước rất khó có thể tìm kiếm được dịch vụ tương tự phát sinh giữa các bên hoàn toàn độc lập khách quan trên thị trường Việt Nam làm căn cứ so sánh. Lợi dụng đặc tính này, trong những năm qua, một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vốn vào Việt Nam và thực hiện cung cấp các dịch vụ cho DN thành viên tại Việt Nam (dịch vụ kế toán, dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính, tư vấn, …) đồng thời tính giá dịch vụ ở mức rất cao để chuyển lợi nhuận từ DN thành viên tại Việt Nam sang bên liên kết nước ngoài.

Chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn SXKD, với cách thức này, lợi nhuận từ DN FDI tại Việt Nam đã được chuyển sang cho bên liên kết tại nước ngoài có mức thuế suất thấp hơn mức thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam. Hành vi này thường xảy ra tại các DN sử dụng vốn lớn như: khai thác mỏ; sản xuất, lắp ráp các phương tiện vận tải…  

PV: Việc giảm nghĩa vụ thuế thông qua giá chuyển nhượng không còn là vấn đề mới ngay cả ở Việt Nam nhưng theo đánh giá của ông tại sao việc quản lý giá chuyển nhượng vẫn gặp rất nhiều khó khăn?

Ông Nguyễn Quang Tiến: Đối với Việt Nam, công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá đã và đang gặp một số khó khăn, vướng mắc do quản lý giá chuyển nhượng là lĩnh vực khó, đòi hỏi người thực hiện ngoài việc nắm vững nghiệp vụ chuyên môn, còn cần có kỹ năng và quyền lực để thực thi nhiệm vụ. Thêm vào đó, ngành thuế đến nay vẫn chưa được trao quyền điều tra nên rất khó thực hiện quản lý hoạt động chuyển giá. Các văn bản pháp quy chưa có các quy định về cơ chế đơn giản hoá thủ tục kê khai giao dịch liên kết, ngưỡng kê khai giao dịch liên kết, xử lý đối với trường hợp vốn mỏng. Cơ quan quản lý chưa có khung lợi nhuận hợp lý theo từng ngành kinh tế để DN có thể xác định chính sách giá một cách hợp lý. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong công tác quản lý hoạt động chuyển giá của DN liên kết chưa chặt chẽ và hiệu quả. Ngoài ra, vì mục tiêu bảo vệ quyền đánh thuế của mỗi quốc gia nên sự phối hợp trong cung cấp và trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế Việt Nam và cơ quan thuế các nước khác còn hạn chế, nên việc tìm kiếm xác định giá thị trường rất khó khăn.  

PV: Từ những bất cập nêu trên theo ông để quản lý tốt giá chuyển nhượng,cơ quan quản lý cần triển khai những giải pháp gì?

Ông Nguyễn Quang Tiến: Hiện nay, Tổng cục Thuế đã và đang triển khai nhiều biện pháp quản lý nhằm tiến tới kiểm soát chặt chẽ các DN có hành vi này, theo đó, ngành thuế đã trình các cấp có thẩm quyền bổ sung cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác định giá (APA) vào Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế để đảm bảo kiểm soát được hoạt động chuyển giá mà không tốn nguồn lực cho việc thanh tra, kiểm tra. Tổng cục Thuế cũng tiếp tục nghiên cứu một số nội dung có liên quan để đề xuất cấp trên sửa đổi, bổ sung chính sách đảm bảo hành lang pháp lý ngày càng được hoàn thiện hơn như: nghiên cứu về thời hạn thanh tra đối với hoạt động chuyển giá để đảm bảo phù hợp với tính chất phức tạp của hoạt động này; nghiên cứu bổ sung quyền điều tra cho cơ quan thuế và “ngưỡng” kê khai thông tin giao dịch liên kết để đơn giản hoá việc kê khai. Cơ quan thuế sẽ đề xuất chế tài xử phạt đủ mạnh đảm bảo tính răn đe đối với các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật, nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các DN.

Về tổ chức bộ máy, tại Tổng cục Thuế đã thành lập Tổ Quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá bao gồm 23 thành viên và sẽ tiếp tục lựa chọn và bổ sung thêm những công chức có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học làm việc tại Tổ này, tiến tới thành lập bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại một số cục thuế lớn; các cục thuế còn lại, giao cho một phòng thanh tra hoặc kiểm tra làm đầu mối theo dõi chung đối với hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực này.

Về phát triển nguồn nhân lực: Tổng cục Thuế đang phối hợp với các tổ chức quốc tế như Jica, IFC, WB, OECD đào tạo cho đội ngũ công chức chuyên trách về kỹ năng quản lý giá chuyển nhượng, kèm theo các bài tập tình huống gắn với thực tế, mở các lớp đào tạo chuyên sâu, trau đồi kỹ năng tin học, ngoại ngữ. Cơ quan thuế cũng tổ chức khảo sát, học tập kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng tại các quốc gia đã gặt hái được nhiều thành công trong hoạt động chuyển giá. Ngoài ra, ngành thuế đang tích cực xây dựng cơ sở dữ liệu về người nộp thuế và các ứng dụng để phục vụ cho việc phân tích rủi ro và thanh tra giá chuyển nhượng, đồng thời, bố trí nguồn kinh phí để mua dữ liệu từ tổ chức quốc tế, từng bước quản lý tốt việc chuyển giá.        

Xin chân thành cảm ơn!

Trung Kiên (thực hiện)