Ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp đầu tư mới tại khu công nghiệp

Đối với khu kinh tế, theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hiện hành, khu kinh tế thuộc địa bàn được ưu đãi thuế TNDN như sau: Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại khu kinh tế được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời gian 15 năm, được miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo.

Ảnh minh họa - nguồn Internet.Ảnh minh họa - nguồn Internet.

Căn cứ quy định của Luật Thuế TNDN, tại điểm a khoản 1 Điều 15 và điểm a khoản 1 Điều 16 Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định như sau: “Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với: Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, khu kinh tế, khu công nghệ cao được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;”. “Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với: Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định này.”

Đối với khu công nghiệp, kể từ ngày 01/01/2009, theo Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 thì không có quy định ưu đãi thuế TNDN đối với khu công nghiệp, trừ trường hợp khu công nghiệp nếu thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn hay địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn thì hưởng ưu đãi thuế tương ứng theo địa bàn. Đồng thời, cũng không có quy định ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng (chỉ quy định ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư).

Thời gian qua, trên cơ sở tổng kết, đánh giá Luật Thuế TNDN hiện hành và ý kiến, đề xuất của các bộ, ngành, địa phương cho thấy cần thiết phải có chính sách ưu đãi thuế TNDN có chọn lọc để khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp, tạo thuận lợi cho chiến lược phát triển khu công nghiệp và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, trình Quốc hội khoá 13 tại kỳ họp thứ 5 thông qua Luật số 32/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN vào ngày 19/6/2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2014, tại khoản 8 Điều 1 của Luật có quy định về ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp và ưu đãi thuế đối với dự án đầu tư mở rộng như sau: “Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới quy định tại khoản 3 Điều 13 của Luật này và thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp, trừ khu công nghiệp thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi theo quy định của pháp luật được miễn thuế tối đa không quá hai năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá bốn năm tiếp theo”.

“Doanh nghiệp có dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang hoạt động thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất (đầu tư mở rộng) nếu đáp ứng một trong ba tiêu chí quy định tại khoản này thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có) hoặc được miễn thuế, giảm thuế đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng. Thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng quy định tại khoản này bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với dự án đầu tư mới trên cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu đãi quy định tại khoản này phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động đạt tối thiểu từ hai mươi tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này hoặc từ mười tỷ đồng đối với các dự án đầu tư mở rộng thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với tổng nguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư; Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khi đầu tư.

Trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động có đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế theo quy định của Luật này mà không đáp ứng một trong ba tiêu chí quy định tại khoản này thì áp dụng ưu đãi thuế theo dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có)”.

(KT)